Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014

Chuyện tín ngưỡng

“Tín” là niềm tin, “ngưỡng” là ngửa mặt lên. Có thể hiểu tín ngưỡng là niềm tin thiêng liêng. Cơ sở của tín ngưỡng, theo Wikipedia “là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào những cái "siêu nhiên" (hay nói gọn lại là "cái thiêng") - cái đối lập với cái "trần tục", cái hiện hữu mà con người có thể sờ mó, quan sát được”.

Tín ngưỡng chỉ có thể là một nét đẹp văn hóa khi nhờ tín ngưỡng, con người được tôn vinh, cuộc sống của con người thêm đẹp đẽ, quan hệ giữa con người với nhau thêm thân thiện. Con người chẳng mấy ai không khỏi những sai lầm trong cuộc sống, với niềm tin vào một Đấng cao cả (có thể là Chúa, là Phật, … tùy theo niềm tin tôn giáo của riêng từng người), người ta có thể giãi bày, sẻ chia nỗi ăn năn như để mong một sự tha thứ; Cuộc sống vật chất còn nhiều thiếu thốn, vất vả, người ta tìm đến tín ngưỡng để tin tưởng vào tương lai, chờ mong một ngày mai tốt đẹp. Cuộc sống còn nhiều bất công, ngang trái, người ta tìm tới tín ngưỡng để hy vọng vào sự công bằng ở ngày mai. Đến với tín ngưỡng, con người được nâng cao cái phần “người”, trở nên cao thượng, thánh thiện, sống thanh thản giữa bộn bề lo toan.

Tới những ngôi chùa ở Thái Lan, ở Myanmar, sao mình thấy hình ảnh của chùa chiền, hình ảnh người ta đi lễ chùa thật đẹp, thật đáng ngưỡng mộ. Cái tư thái thong dong, chậm rãi những nét mặt khoan hòa, những tràng hoa ngát hương và để chia sẻ nỗi niềm với Đức Phật, sau khi đặt chút phẩm vật đơn sơ nhưng tinh khiết lên ban thờ, người ta tới một nơi yên tĩnh (dưới một gốc cây, dưới chân pho tượng, hoặc đơn giản, chỉ là một góc vắng vẻ nơi sân chùa), hai tay chắp trước ngực, mặt ngẩng lên cao, lặng lẽ có thể tới nhiều giờ như thầm sẻ chia, như đang lắng nghe những lời khuyên nhủ, vỗ về, an ủi.

Mà chẳng cần so sánh với những xứ lân bang, ngay với nước mình chuyện tín ngưỡng xưa và nay cũng cách nhau một trời một vực.

Xưa, những ngôi chùa nép mình dưới những tán cổ thụ, vườn cây râm mát, trầm mặc với vẻ rêu phong, vô cùng gần gũi với con người nghèo khổ; nay chùa chiền thi nhau khoe kỷ lục, trắng lốp, vàng chóe, đỏ rực như để khỏi thua kém những nhà hàng khách sạn nhiều sao, những quán bar inh tai nhức óc bởi âm thanh chát chúa.

Xưa các nhà sư trong bộ quần áo nâu sồng khắc khổ, cặm cụi trên những mành vườn chùa, ruộng chùa làm kế sinh nhai, lặng lẽ suốt đời theo tấm gương từ bi hỷ xả của Đức Phật; nay, các nhà sư áo mũ xênh xang, mặt mũi phương phi, đầy vẻ viên mãn hiên ngang bước lên nhận đủ thứ huân chương, bằng khen, phẩm hàm đậm mùi ham hố trần tục.

Xưa người ta tới chùa với những bông hoa, chùm quả còn ướt sương đêm và lòng thành kính; nay mang tới chùa những mâm cao cỗ đầy, nhưng hầu hết là của giả với màu sắc sặc sỡ để khoe với thiên hạ và để hy vọng lễ cao lộc hậu.

Xưa các bà, các chị thường tới những ngôi chùa quen thuộc vào ngày Tết, ngày rằm, mồng một, gửi gắm niềm tin vào một nơi mà nhiều khi suốt đời không thay đổi; nay, người ta đi đủ nơi đủ chốn, cầu xin đủ loại thánh thần, không biết đó là ai, chỉ cần nghe “thiêng lắm” là không quản đường xa cách trở như không thể bỏ lỡ cơ hội đầu tư với phương châm sống “trăm bó đuốc ắt bắt được con ếch”. Và không thể chờ đợi, người ta phải lập tức nhét những tờ giấy bạc nhàu nhĩ vào đủ nơi trên tượng Phật theo triết lý sống “mì ăn liền”.

Xưa người đi chùa lễ Phật thường là các bà các chị, đàn ông có tới chùa phần lớn chỉ vì nơi danh lam thường cũng là thắng cảnh. Tới chùa lễ Phật nhưng nhiều phần là để hưởng cái thú tiêu dao, bầu rượu túi thơ giữa cảnh nước non hữu tình; nay đàn ông tới chùa đông hơn nhiều và thường chiếm ưu thế nhờ sức dài vai rộng, trong các cuộc tranh cướp những ấn, những lộc không chịu thua kém ai.
….
Một khi con người bị tầm thường hóa bởi những khát vọng vật chất, bởi sự bon chen giành giật, cầu xin khẩn khoản, thậm chí tranh đoạt thô bạo, liệu cái tín ngưỡng ấy có đáng để tôn vinh?

Hồi còn đi học, một hôm, mấy đứa tới chơi nhà thầy. Lật xem cuốn Larousse (Từ điển bách khoa Pháp) để trên bàn, thấy mấy bức tranh khỏa thân của các họa sĩ thời Phục hưng, bọn học trò chỉ trỏ, nhấm nháy. Thầy phát hiện được, mỉm cười, hỏi:
- Có biết tại sao người ta cấm văn hóa đồi trụy, đốt hết những tranh ảnh khỏa thân mà trong cuốn sách tập trung cái tinh hoa của văn hóa thế giới lại có những bức tranh này không?
Quả là thầy đã rất nhanh chóng hiểu được nỗi băn khoăn của lũ học trò còn thơ dại. Tất cả đều chăm chú lắng nghe lời thầy giải thích. Thầy nói khá dài, hơn 50 năm, không còn nhớ được bao nhiêu, và cũng hơn nửa thế kỷ, cách hiểu của thầy có thể đến nay không còn hoàn toàn phù hợp, nhưng dù thời gian đã gần hết cuộc đời con người, tôi vẫn nhớ ý của thầy: Cái gì tôn vinh con người, làm cho con người trở nên tốt đẹp, thăng hoa, …là cái văn hóa chân chính, đáng ngưỡng mộ, còn những gì kích thích cái phần bản năng khiến con người trở nên thấp hèn đều có thể coi là đồi trụy.

Phải chăng, tín ngưỡng của nước Nam ta bây giờ đã trở thành loại tín ngưỡng đồi trụy?

Cũng thời còn đi học, môn chính trị (học phổ thông, chứ không phải đại học!), nghe thầy dạy “tôn giáo là thuốc phiện” (sau này lớn lên, mới biết vốn là lời của C. Mác: Tôn giáo là thuốc phiện mê hoặc quần chúng.)

Lúc ấy còn trẻ con, chẳng hiểu ra thế nào. Nhưng bây giờ thì hiểu rồi!


Dương Đinh Giao

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét