Thứ Sáu, 14 tháng 3, 2014

Không chẳng thể bị thương

Woman-Warrior

Chào các bạn,
Làm sao để trái tim của chúng ta luôn bình an và đầy yêu thương trong một thế giới đầy nhiễu loạn và đao kiếm?
Nói đến đao kiếm tự nhiên mình nghĩ đến hình ảnh một kiếm sĩ múa bài Mai Hoa Kiếm vùn vụt, kiếm điểm như những hoa mai lấp lánh trên không, tiếng kiếm chém gió vun vút, những chiếc lá vàng dưới đất xoay tròn theo gió kiếm.

Kiếm sĩ ngừng tay. Ngàn cánh mai biến mất. Vòng lá vàng ngừng xoay. Mặt kiếm sĩ lấm tấm mồ hôi.
Và Không trung chẳng bị một thương tích nào, chẳng thay đổi một chút nào, sau hàng trăm nhát chém. Bầu Không khí vẫn mát mẻ yên ắng như trước.
Đã là Không thì chẳng đao kiếm nào có thể làm gì được.
Nếu lòng ta Không chấp vào bất kì điều gì, thì chẳng đao kiếm nào có thể tổn thương ta được.
Có tiền nhưng Không chấp vào tiền
Có danh dự nhưng Không chấp vào danh dự
Có địa vị nhưng Không chấp vào địa vị
Có tình nhưng Không chấp vào tình
Có sắc đẹp nhưng Không chấp vào sắc đẹp
Có tài sản nhưng sẵn sàng làm ăn mày
Có đời sống nhưng sẵn sàng chết

Nếu Không chấp như thế, thì đao kiếm nào có thể làm cho ta gãy?
Có mà Không chấp, Không có mà Không chấp. Đó là, Có mà là Không, Không mà là Có.
Chữ Không thật là mầu nhiệm. Chữ Không làm cho một người tầm thường trở thành thánh nhân.
Các bạn, nhiều kinh sách lý luận về chữ Không điên cả cái đầu. Nhưng bạn không cần suy nghĩ gì cả. Bạn chỉ cần sống Không chấp vào đâu, Không chấp vào điều gì, thì bạn sẽ hiểu Không rất rõ.
Có thì có thể có mọi thứ. Nhưng chấp thì Không chấp vào thứ nào. Giản dị thế.
Ưng vô sở trụ. Không trụ (chấp) vào nơi đâu.
Vậy thì không còn đao kiếm nào có thể gây thương tích khổ đau cho bạn.
Chúc các bạn luôn nhẹ nhàng như Không.
Mến,
Hoành
© copyright 2014
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Phạm Thu Hường
Em cảm ơn anh, em cảm nhận được tự do tuyệt đối chỉ trong một từ Không (sau khi tìm kiếm và theo đuổi rất nhiều từ Có ^^).
Em cảm nhận là: “Có mà Không chấp” cần bản lĩnh với chính mình, “Không có mà Không chấp” cần bản lĩnh trong liên hệ với người khác (vì áp lực xã hội là phải Có danh, tài, lực,…), nhưng nếu mình có tự tin trong tâm linh thì sẽ vượt qua được những áp lực đó.
Cảm ơn câu chúc “nhẹ nhàng như Không” của anh ạ :)
Em Hường

Thứ Năm, 13 tháng 3, 2014

“Sử dụng” cảm xúc và vui buồn sướng khổ

Bích Tâm (Diễn Ngôn)
 
Nếu các bạn làm một động tác tìm kiếm trên google với cụm từ “quản lý cảm xúc” thì trong vòng 0,16 giây bạn có được 530.000 kết quả. Nếu tìm kiếm trên amazone với cụm từ này thì sẽ thấy 6.303 cuốn sách (chưa kể những cuốn sách khác có thể về nội dung đó nhưng không đặt trực tiếp tựa đề là quản lý cảm xúc). Có vẻ như xã hội phát triển, nhịp sống nhanh hơn, nhiều tương tác hơn thì những vấn đề liên quan đến cảm xúc cũng xuất hiện nhiều hơn và người ta cần học cách quản lý nó. Còn một lý do nữa mà quản lý cảm xúc là một chủ đề nóng bởi cảm xúc là thứ tác động ngay đến hành động tiếp theo của chúng ta.






“Sử dụng” cảm xúc và vui buồn sướng khổ

Vậy thế nào là quản lý cảm xúc? Quản lý cảm xúc liệu có phải là giết chết cảm xúc tiêu cực hay có phải là không thể hiện cảm xúc? Có một câu nói rằng, “Bạn không thể quyết định là bạn cảm thấy như thế nào nhưng bạn có thể quyết định là mình làm gì với cảm xúc đó” vậy thì liệu có phải “quản lý cảm xúc” là chỉ khi có cảm xúc rồi thì học cách quản lý nó hay quản lý cảm xúc còn là chủ động tạo ra những cảm xúc cần thiết? 
Để quản lý được cảm xúc, chúng ta hãy cùng tìm hiểu một câu chuyện. Chuyện này xảy ra trong một toa tàu với một người đàn ông đi cùng 3 đứa trẻ. Cùng trong toa có thêm một số hành khách khác. Tàu chuyển bánh được một lúc thì những đứa trẻ bắt đầu la hét, đánh nhau, dành nhau đồ chơi v.v. gây ra rất nhiều tiếng ồn ào. Trong khi đó người đàn ông là cha của 3 đứa trẻ thì chỉ nhắc nhưng khi những đứa trẻ không nghe thì người cha cũng không làm gì thêm. Hành khách rất khó chịu. Lúc đầu họ quay sang nhìn và có ý nhắc người cha, một số người hắng giọng, trở mình trên ghế, lấy khăn bịt qua đầu để che cả tai v.v. Sau một hồi tỏ thái độ và không thấy có chuyển biến, những đứa trẻ vẫn tiếp tục la hét, một hành khách đứng phắt dậy, tiến đến chỗ người cha và lớn tiếng rất tức giận “ông có nhận thấy là các con mình đang làm phiền người khác không? ông cố tình để con mình làm loạn lên. Nếu ông không quản lý được con chúng tôi buộc sẽ phải mời người quản lý trên tàu đến để giải quyết”. Ngay lập tức, những người khác cũng nhao nhao lên tiếng tỏ vẻ bất bình. Người cha, ngước mắt lên và chậm rãi nói: tôi rất xin lỗi đã làm phiền các vị. Vợ tôi mới mất vì tai nạn cách đây 5 ngày và giờ tôi đang phải đưa các cháu về gửi bà Ngoại một thời gian. Các cháu đang bị khủng hoảng vì Mẹ ra đi đột ngột và bản thân tôi cũng vậy nên tôi không biết phải làm thế nào. Người hành khách vừa lên tiếng gay gắt sững lại vài giây rồi quay về chỗ ngồi và quay lại với một túi bánh nhỏ đưa cho lũ trẻ. Những người còn lại trên toa tàu cũng thay đổi hẳn thái độ, khi những đứa trẻ la hét, một vài người đến gần, bày một số trò cho chúng chơi cùng v.v.


Câu hỏi đặt ra là điều gì đã làm thay đổi cảm xúc của những người hành khách từ tức giận sang yêu thương và sẻ chia? Đó là vì họ đã có những câu chuyện khác lý giải hành vi làm ồn của tụi trẻ. Lúc mới lên tàu, khi chứng kiến lũ trẻ la hét, câu chuyện mà những hành khách khác có trong đầu có thể là “lũ trẻ hư, người cha quá nuông chiều, không tôn trọng những người xung quanh” chính cái chi tiết “không tôn trọng” trong câu chuyện họ phát triển trong đầu đã làm cho nhóm hành khách này thấy bị xúc phạm và tức giận. Sau khi nghe giải thích của người cha, họ có một câu chuyện khác, một câu chuyện về những đứa trẻ đang trải qua khủng hoảng và cần được giúp đỡ, và câu chuyện này đã tạo ra trong họ cảm xúc thương cảm và muốn làm gì đó giúp.


Như vậy là cảm xúc tạo ra bởi những câu chuyện chúng ta tự kể trong đầu khi chứng kiến những hành động hoặc trải qua những sự kiện nhất định nào đó. Những sự kiện, con số, những gì xảy ra là khách quan nhưng cách chúng ta chọn chi tiết và sắp xếp chúng lại rồi đặt cho những chi tiết đó một ý nghĩa nào đó thì lại là chủ quan của chúng ta. Điều đó lý giải vì sao cùng trải qua một sự việc nhưng cảm xúc của mọi người lại có thể rất khác nhau. Ví dụ cùng đọc tin về việc xả lũ ở miền Trung làm hàng chục người chết và mất tích nhưng có thể có những người hoàn toàn không bị tác động gì (câu chuyện họ có chỉ là việc xảy ra ở miền Trung, đâu phải Hà Nội), có những người thấy thương cảm, muốn làm gì đó cho để giúp những nạn nhân (vì trong câu chuyện của họ có nước mắt của những người mất đi người thân), có những người sẽ thấy tức giận với những đơn vị xây nhà máy thủy điện và quản lý đập (câu chuyện của họ có cả những thông tin về việc xả lũ đúng vào ngày mưa ngập, xả lũ đột ngột nên người dân không kịp xoay sở, xây đập tràn lan).


Có lẽ quản lý cảm xúc theo kiểu “làm gì khi nóng giận” v.v đã được nói tới nhiều rồi, chia sẻ nhiều rồi. Trong bài viết này, tôi chỉ muốn đưa thêm một cách nhìn nữa về quản lý cảm xúc là hãy biết chắt lọc thông tin cho những câu chuyện tự kể để tạo ra những cảm xúc đúng đắn cho những hành động phù hợp. Hãy tìm ý nghĩ của mỗi thực hành văn hóa để xúc động trước cái đẹp của những nền văn hóa khác nhau và hành động tiếp theo là bảo vệ cái đẹp, tôn vinh sự đa dạng. Hãy đặt câu hỏi phản biện trước những sự thật tưởng như là hiển nhiên để có thể biết tức giận, bất bình trước những bất công rồi từ đó biết lên tiếng bảo vệ cho sự công bằng. Và hãy biết xấu hổ khi một lần không thực hiện đúng trọng trách dẫn đến một quyết định sai lầm để dũng cảm sống đúng là mình và để sau này không phải nói rằng “tôi rất ân hận”.


Thứ Tư, 12 tháng 3, 2014

Từ tâm


Vài người bạn nói với tôi rằng trong khi tình yêu và lòng từ thật tuyệt vời và tốt đẹp, các đức tính đó thật ra chẳng liên can gì đến ta. Thể giới của chúng ta, họ nói, không phải là nơi những đức tính đó có ảnh hưởng và quyền lực. Họ cho rằng, sự giận dữ và hận thù là phần rất thiết yếu của bản chất con người, đến nỗi nhân loại sẽ luôn luôn bị thống trị bởi giận dữ và hận thù. Tôi không đồng ý với quan điểm này.
.
Con người chúng ta tồn tại trong tình trạng như hiện nay đã khoảng một trăm ngàn năm. Tôi tin rằng, trong khoảng thời gian này, nếu nhân tâm chủ yếu bị chi phối bới giận dữ và hận thù, nhân số chúng ta sẽ giảm. Nhưng ngày nay, dù có chiến tranh, dân số thế giới cao hơn bao giờ hết. Điều này cho tôi thấy, trong khi giận dữ và gây gổ chắc chắn có, tình yêu và lòng từ thống trị thế giới. Đó cũng là lý do tại sao mà cái chúng ta gọi là “tin tức” thường gồm các tin không vui hay bi thảm; các hoạt động đầy tình thương là phần lớn của cuộc sống hàng ngày nên các hoạt động đó được coi là đương nhiên và do đó thường bị lờ đi.
.
helpinghand


…Chúng ta, suy cho cùng, là các động vật mang tính xã hội. Nếu chẳng có tình bạn giữa con người, nụ cười của con người, cuộc đời chúng ta sẽ trở nên đau khổ. Sự cô đơn sẽ trở nên ngoài sức chịu đựng. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa người và người là một quy luật tự nhiên, tức là, theo quy luật đó, chúng ta phụ thuộc vào nhau để sống. Nếu, trong tình cảnh nào đó, bởi vì có điều gì không ổn trong lòng chúng ta, thái độ của chúng ta đối với anh em đồng loại, mà chúng ta phụ thuộc, trở nên thù đich, thì làm sao chúng ta có thể hy vọng có được sự thanh bình trong tâm hay một cuộc sống hạnh phúc? Theo bản tính tự nhiên của con người hay luật tự nhiên, phụ thuộc lẫn nhau – cho và nhận tình nhân ái – là chìa khóa của hạnh phúc.

(From The Compassionate Life by Tenzin Gyatso, the Fourteenth Dalai Lama.
Trích từ Đời Sống Từ Ni của Dat Lai Lat Ma thứ 14.
Nguyến Minh Hiển dịch)

Thứ Ba, 11 tháng 3, 2014

Tâm linh là thực hành

Chào các bạn,

Năm 18 tuổi mình bắt đầu làm quen với Phật triết khi học triết lý đông phương ở Đại học Văn khoa Sài Gòn (mà ngày nay gọi là Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn) trên đường Đinh Tiên Hoàng. (Mình có nhiều kỷ niệm đáng yêu ở đó, nên nhắc đến trường là muốn kể chuyện. Nhưng phải dành khi khác vậy).
Vào thời đó các điểm chính của Phật pháp như là vô thường, vô chấp, vô trụ, sắc không không sắc (Bát Nhã Tâm Kinh) mình đều biết hết và có thể nói nghe rất uyên bác và xôm tụ, nhưng mình cũng biết rất rõ là mình không hiểu gì cả, điều gì cũng mờ mờ ảo ảo trong đầu, suy nghĩ nhức cả đầu mà không thấy sáng hơn chút nào. Chỉ có một điều tốt là trong những năm đó mình chẳng bao giờ nói về Phật pháp và không hề dùng từ ngữ để khoa trương là “tôi biết”.

Cho đến năm 40 tuổi, mình nghiên cứu lại kinh sách nhà Phật và lần này mọi sự bỗng nhiên hiện ra trong đầu mình rõ như 2 cộng 2 là 4. Mình hiểu ra là lý thuyết nhà Phật chỉ hiểu được khi mình đã trải qua rất nhiều kinh nghiệm đời.
Rồi mình nghĩ lại, “Tại sao các thầy của mình ngày trước, là các thầy rất nổi tiếng, lại không thể giải thích cho mình hiểu được, dù mình đọc sách của các vị rất kỹ, các vị viết rất dễ hiểu, và mình là học trò thông minh?”.
“Làm sao để mình có thể nói về Phật pháp để các vị còn trẻ như mình ngày xưa hiểu được Phật pháp?”
Và từ kinh nghiệm của mình, mình nhận ra rằng sở dĩ ngày trước mình không hiểu vì mình đọc sách như là lý thuyết và cố gắng hiểu như là lý thuyết và lý luận. Nhưng Phật pháp là sống thực. Phải sống Phật pháp thì mới hiểu Phật pháp. Ngày xưa, tất cả các thầy viết sách mà mình đọc, đều có một lỗi rất lớn là không nói cho học trò biết “Phật pháp là sống. Phải sống mới hiểu. Đọc mà không sống, thì không thể hiểu.” Cho nên đại đa số học trò, đọc Phật pháp như là một loại kiến thức khoa bảng, nghĩ rằng Phật pháp có thể hiểu được qua ngôn từ, càng đọc càng giỏi. Chính vì vậy mà có rất ít người học Phật pháp mà hiểu được.
Phật pháp là một môn nghệ thuật sống. Như tất cả mọi môn nghệ thuật khác—âm nhạc, hội họa, nấu nướng, vũ, võ, yoga—lý thuyết chiếm 1/100 của môn học, phần thực hành chiếm 99%. Thực hành càng lâu mình càng giỏi và càng khám phá ra nhiều bí ẩn mà các tôn sư đã nói nhưng chẳng mấy ai hiểu.
Cho nên mỗi khái niệm Phật pháp, bạn phải sống với nó. Vô thường, thì sống với đời vô thường, xem đổi thay là chuyện hiển nhiên và sống tự tại với vô thường. Vô chấp thì đừng bám vào đâu, mặc dù có thể bám mọi nơi. Vô ngã thì sống với cái nhìn mọi thứ là Không (nhất thiết pháp giai Không) kể cả chính mình. Tĩnh lặng thì tập sống với kinh nghiệm không có điều gì làm mặt hồ của mình xung động dù là một hòn đá nhỏ cũng làm cho mặt hồ của mình rung động. Từ tâm (yêu người) thì tập từ tâm với tất cả mọi chúng sinh, vô điều kiện…
Vấn đề của thế giới chúng ta là chúng ta thích nói pháp hơn là hành pháp. Phật pháp kì diệu, nhưng ta chỉ thấy được các điều kì diệu khi ta thực hành Phật pháp nghiêm chỉnh.
Và mình cũng có thể nói về Thánh kinh y hệt như mình nói về Phật pháp như thế.
Chúc các bạn luôn tinh tấn.
Mến,
Hoành
© copyright 2014
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014

Tách trà



 


Nan-in, một thiền sư thời Minh Trị Thiên Hoàng (1868-1912), tiếp một giáo sư đại học 
đến để hỏi về Thiền. Nan-in rót trà. Thiền sư rót đầy tách của giáo sư, và cứ tiếp tục rót.
Vị giáo sư nhìn trà tràn ra ngoài cho đến lúc ông không nhịn được nữa, “Tràn ra ngoài 
rồi, không thêm được nữa!”
“Như là tách trà này,” Nan-in nói, “ông đầy ý kiến và phỏng đoán. Làm sao tôi có thể chỉ 
Thiền cho ông nếu ông không đổ sạch tách của ông trước?”

(101 truyện Thiền do thiền sư Nhật Mujū (無住 , Vô Trú) viết vào thế kỷ 
mười ba)

Bình
Đạo Phật đề cao tinh thần phá chấp và hỉ xả: không bám chặt những tư tưởng của riêng mình và luôn luôn hoan hỉ đón nhận những tư tưởng đúng đắn, tốt đẹp của người khác.

Hình ảnh chiếc chén không, diễn tả tinh thần hỉ xả, sẵn sàng chấp nhận chân lý bất cứ đến từ đâu.

Chuyện thiền trên đây nhằm đả kích chủ nghĩa giáo điều hẹp hòi và tinh thần cố chấp thường gặp ở những người trí thức vậy. 

Câu chuyện này không nhất thiết chỉ đúng cho học Thiền. Muốn tìm hiểu bất kỳ điều gì ờ 
đời–một tôn giáo, một người, một nhóm người, một nền văn hóa, một dân tộc, một lịch 
sử, một vụ kiện, v.v… chúng ta phải đổ sạch tách thành kiến, giả định, phỏng đoán và kết 
luận trong đầu–một cái tách trống rỗng, một tờ giấy trắng tinh–thì chúng ta mới có thể 
học hỏi được.

Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014

Chuyện tín ngưỡng

“Tín” là niềm tin, “ngưỡng” là ngửa mặt lên. Có thể hiểu tín ngưỡng là niềm tin thiêng liêng. Cơ sở của tín ngưỡng, theo Wikipedia “là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào những cái "siêu nhiên" (hay nói gọn lại là "cái thiêng") - cái đối lập với cái "trần tục", cái hiện hữu mà con người có thể sờ mó, quan sát được”.

Tín ngưỡng chỉ có thể là một nét đẹp văn hóa khi nhờ tín ngưỡng, con người được tôn vinh, cuộc sống của con người thêm đẹp đẽ, quan hệ giữa con người với nhau thêm thân thiện. Con người chẳng mấy ai không khỏi những sai lầm trong cuộc sống, với niềm tin vào một Đấng cao cả (có thể là Chúa, là Phật, … tùy theo niềm tin tôn giáo của riêng từng người), người ta có thể giãi bày, sẻ chia nỗi ăn năn như để mong một sự tha thứ; Cuộc sống vật chất còn nhiều thiếu thốn, vất vả, người ta tìm đến tín ngưỡng để tin tưởng vào tương lai, chờ mong một ngày mai tốt đẹp. Cuộc sống còn nhiều bất công, ngang trái, người ta tìm tới tín ngưỡng để hy vọng vào sự công bằng ở ngày mai. Đến với tín ngưỡng, con người được nâng cao cái phần “người”, trở nên cao thượng, thánh thiện, sống thanh thản giữa bộn bề lo toan.

Tới những ngôi chùa ở Thái Lan, ở Myanmar, sao mình thấy hình ảnh của chùa chiền, hình ảnh người ta đi lễ chùa thật đẹp, thật đáng ngưỡng mộ. Cái tư thái thong dong, chậm rãi những nét mặt khoan hòa, những tràng hoa ngát hương và để chia sẻ nỗi niềm với Đức Phật, sau khi đặt chút phẩm vật đơn sơ nhưng tinh khiết lên ban thờ, người ta tới một nơi yên tĩnh (dưới một gốc cây, dưới chân pho tượng, hoặc đơn giản, chỉ là một góc vắng vẻ nơi sân chùa), hai tay chắp trước ngực, mặt ngẩng lên cao, lặng lẽ có thể tới nhiều giờ như thầm sẻ chia, như đang lắng nghe những lời khuyên nhủ, vỗ về, an ủi.

Mà chẳng cần so sánh với những xứ lân bang, ngay với nước mình chuyện tín ngưỡng xưa và nay cũng cách nhau một trời một vực.

Xưa, những ngôi chùa nép mình dưới những tán cổ thụ, vườn cây râm mát, trầm mặc với vẻ rêu phong, vô cùng gần gũi với con người nghèo khổ; nay chùa chiền thi nhau khoe kỷ lục, trắng lốp, vàng chóe, đỏ rực như để khỏi thua kém những nhà hàng khách sạn nhiều sao, những quán bar inh tai nhức óc bởi âm thanh chát chúa.

Xưa các nhà sư trong bộ quần áo nâu sồng khắc khổ, cặm cụi trên những mành vườn chùa, ruộng chùa làm kế sinh nhai, lặng lẽ suốt đời theo tấm gương từ bi hỷ xả của Đức Phật; nay, các nhà sư áo mũ xênh xang, mặt mũi phương phi, đầy vẻ viên mãn hiên ngang bước lên nhận đủ thứ huân chương, bằng khen, phẩm hàm đậm mùi ham hố trần tục.

Xưa người ta tới chùa với những bông hoa, chùm quả còn ướt sương đêm và lòng thành kính; nay mang tới chùa những mâm cao cỗ đầy, nhưng hầu hết là của giả với màu sắc sặc sỡ để khoe với thiên hạ và để hy vọng lễ cao lộc hậu.

Xưa các bà, các chị thường tới những ngôi chùa quen thuộc vào ngày Tết, ngày rằm, mồng một, gửi gắm niềm tin vào một nơi mà nhiều khi suốt đời không thay đổi; nay, người ta đi đủ nơi đủ chốn, cầu xin đủ loại thánh thần, không biết đó là ai, chỉ cần nghe “thiêng lắm” là không quản đường xa cách trở như không thể bỏ lỡ cơ hội đầu tư với phương châm sống “trăm bó đuốc ắt bắt được con ếch”. Và không thể chờ đợi, người ta phải lập tức nhét những tờ giấy bạc nhàu nhĩ vào đủ nơi trên tượng Phật theo triết lý sống “mì ăn liền”.

Xưa người đi chùa lễ Phật thường là các bà các chị, đàn ông có tới chùa phần lớn chỉ vì nơi danh lam thường cũng là thắng cảnh. Tới chùa lễ Phật nhưng nhiều phần là để hưởng cái thú tiêu dao, bầu rượu túi thơ giữa cảnh nước non hữu tình; nay đàn ông tới chùa đông hơn nhiều và thường chiếm ưu thế nhờ sức dài vai rộng, trong các cuộc tranh cướp những ấn, những lộc không chịu thua kém ai.
….
Một khi con người bị tầm thường hóa bởi những khát vọng vật chất, bởi sự bon chen giành giật, cầu xin khẩn khoản, thậm chí tranh đoạt thô bạo, liệu cái tín ngưỡng ấy có đáng để tôn vinh?

Hồi còn đi học, một hôm, mấy đứa tới chơi nhà thầy. Lật xem cuốn Larousse (Từ điển bách khoa Pháp) để trên bàn, thấy mấy bức tranh khỏa thân của các họa sĩ thời Phục hưng, bọn học trò chỉ trỏ, nhấm nháy. Thầy phát hiện được, mỉm cười, hỏi:
- Có biết tại sao người ta cấm văn hóa đồi trụy, đốt hết những tranh ảnh khỏa thân mà trong cuốn sách tập trung cái tinh hoa của văn hóa thế giới lại có những bức tranh này không?
Quả là thầy đã rất nhanh chóng hiểu được nỗi băn khoăn của lũ học trò còn thơ dại. Tất cả đều chăm chú lắng nghe lời thầy giải thích. Thầy nói khá dài, hơn 50 năm, không còn nhớ được bao nhiêu, và cũng hơn nửa thế kỷ, cách hiểu của thầy có thể đến nay không còn hoàn toàn phù hợp, nhưng dù thời gian đã gần hết cuộc đời con người, tôi vẫn nhớ ý của thầy: Cái gì tôn vinh con người, làm cho con người trở nên tốt đẹp, thăng hoa, …là cái văn hóa chân chính, đáng ngưỡng mộ, còn những gì kích thích cái phần bản năng khiến con người trở nên thấp hèn đều có thể coi là đồi trụy.

Phải chăng, tín ngưỡng của nước Nam ta bây giờ đã trở thành loại tín ngưỡng đồi trụy?

Cũng thời còn đi học, môn chính trị (học phổ thông, chứ không phải đại học!), nghe thầy dạy “tôn giáo là thuốc phiện” (sau này lớn lên, mới biết vốn là lời của C. Mác: Tôn giáo là thuốc phiện mê hoặc quần chúng.)

Lúc ấy còn trẻ con, chẳng hiểu ra thế nào. Nhưng bây giờ thì hiểu rồi!


Dương Đinh Giao

Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Đời sống tâm linh của con người

Mỗi con người đều sống vớithế giới hiện hữu, với những nhu cầu hiện hữu, với nhữnghoạt động hiện hữu. Điều đó do tính sinh học và tính xã hội củacon người qui định. Không ai có thể sống mà không thỏa mãn được nhữngnhu cầu sinh học và xã hội của mình. Nói như Marx, ăn, mặc, ở, đilại, giao tiếp... là những nhu cầu đầu tiên mà con người phải thỏamãn. Toàn bộ đời sống hiện hữu của con người đều có nguồn gốctừ động vật (cả tính sinh học lẫn tính xã hội, tính quần thể), vànhiều lắm cũng chỉ là nhân (hay kéo dài) những năng lực động vậtlên”

“Cái thiêng liêng là một trongnhững cái không thể nhận biết bằng lý trí. Vì một khi đã nhận biếtđược một đối tượng thiêng liêng bằng lý trí (bằng khám phá và kiểmnghiệm khoa học), thì nó không còn là thiêng liêng nữa. Cũng có thểnói như vậy về chân, mỹ, thiện. Người ta bao giờ cũng hướng tớinhững cái đó, nhưng không bao giờ có thể đạt tới ở mức cuối cùng.Tất cả những gì là thiêng liêng, là cao cả bao giờ cũng vẫy gọi conngười, làm cho nó luôn luôn tự vượt mình, hướng tới cái cao hơn(hướng thượng), hướng tới cái siêu việt, tới trạng thái chân hơn,mỹ hơn, thiện hơn. Xu hướng ấy của con người tạo ra mộtmặt cơ bản của đời sống con người: đờisống tâm linh”.

Cái làm cho con ngườikhác về căn bản, về chất, với động vật chính là ở chỗ con người,ngoài đời sống hiện hữu ra, còn có đời sống tâm linh của nó”

“Đời sống hiện hữu cùng vớiđời sống tâm linh hợp thành bản thể của con người”.

“Xét về mặt bản thể luận, conngười sinh ra với những mâu thuẫnnội tại của nó, và toàn bộ đời sống của một cá nhân hay củamột cộng đồng đều là sự giải quyết vô cùng tận những mâu thuẫn ấy.

Thứ nhất, con người sinh ra như một thực thể hữu hạn giống như mọi sinh vật khác, nhưngkhác với những sinh vật khác nó luôn luôn hướng tới sự vô hạn. Không một người nào bằng lòng vớitính hữu hạn của đời sống con người. Ai cũng muốn kéo dài sự sốngcủa mình thành ra vô hạn, ngay cả sau khi không còn sống nữa. Hướngtới tính vô hạn, tính bất tử làmột thiên hướng bản thể của con người. Sự chôn cất đồng loại, sựthờ cúng tổ tiên... là những biểu hiện cố hữu của thiên hướng đó.

Thứ hai, mỗi con người sinh ra là kết quả của những yếutố ngẫu nhiên, những yếutố không do bản thân mình định trước (từ nguồn gốc tổ tông, sự kếthợp của bố mẹ, đến cả thời điểm thụ thai và sinh ra và vô số nhữngyếu tố khác...), nhưng khi đã có mặt trên đời như một con người có ýthức, thì ai cũng coi sự sống của mình như một tất yếu, đềukhẳng định ý nghĩa cuộc sống của mình mà chỉ mình mới có. Đó làcái được tâm lý học gọi là sự tự khẳng định, tự thể hiện và tựthực hiện của mỗi cá nhân con người. Và thiên hướng ấy luôn luôn tănglên mà không giảm đi.

Thứ ba, mâu thuẫn giữa thiên hướng cực tiểu vốn có và thiên hướng cực đại muốn có ở mỗi con người. Sinh ra là một “hạtbụi” trong vũ trụ, con người bao giờ cũng hướng tới sự chiếm lĩnh(ít ra về mặt nhận thức) toàn bộ thế giới chung quanh. Những câu hỏiđược đặt ra và được trả lời vô cùng tận là những câu hỏi về nguyênủy và cứu cánh của con người, của vũ trụ (con người và vũ trụ từđâu ra và đi tới đâu?).
Thứ tư, sinh ra như một “sinh vật mong manh” giữa muôn vànmối đe dọa từ tự nhiên và từ chính bản thân con người, mỗi ngườiđều hướng tới những sức mạnh toàn năng nhằm đạt tới sự an toàn tốiđa và sự chiếm lĩnh mọi cái cần thiết cũng đến mức tối đa.

Còn có thể nêu ra những mâuthuẫn bản thể khác có ở con người, nhưng như vậy cũng tạm đủ để bàntới những nền tảng của đời sống tâm linh. Một mặt, với tư cách mộtthực thể hiện hữu, con người không bao giờ có thể giải quyết đượcnhững mâu thuẫn ấy. Nhưng, mặt khác, nó phải giải quyết những mâuthuẫn ấy từ trong ý thức sâu xa của mình, và chính đời sống tâm linhlà cách giải quyết duy nhất có thể có.Trong đời sống tâm linh, conngười sống với những hòai bão, những khát vọng hướng thượng, hướngthiện, vươn tới cái tuyệt đối, cái vô hạn, cái toàn năng, tóm lại,cái siêu việt. Và vì tất cả những cái đó đều không có trong thếgiới hiện hữu, nên chúng biến thành những cái thiêng liêng đối vớicon người. Cái thiêng liêng, vì thế, vừa là đích hướng tới không nguôicủa con người, vừa là cái không bao giờ đạt tới được. Và dù khôngbao giờ đạt tới được, nhưng bao giờ nó cũng vẫy gọi con người. Nótrở thành cái tiềm thức, cái vô thức ở con người.

Cái thiêng liêng, và nói rộngra, cái tâm linh là cái không thể nắm bắt được, nhưng không phải vìthế mà nó không tồn tại. Muốn hay không muốn, con người rốt cuộcphải thừa nhận sự tồn tại của nó. Có thể ở một giai đoạn nào đócủa đời sống con người nói riêng và đời sống xã hội nói chung, đờisống tâm linh bị gạt bỏ, bị đẩy lùi, và điều đó đã xảy ra với mộtsố người, một số xã hội lấy chủ nghĩa duy vật vô thần làm hệ tưtưởng chính thống. Nhưng vì đời sống tâm linh là có tínhbản thể của con người, nên sớm hay muộn nó cũng tự phục hồi, haynói đúng hơn, được chính con người phục hồi để bảo vệ bản thể toànvẹn của mình”

(trích dẫn từ “ Đời sống tâm linh và ý thức tôn giáo” – Nguyễn Kiến Giang)

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

"Cái tôi" theo phân tâm học của S. Freud



……
So sánh tâm linh con người với một tảng băng, mà tới tám chín phần mười tảng băng này chìm dưới nước biển, Freud cho rằng phần chính tâm lý con người cũng được ẩn giấu trong cõi vô thức. Bên dưới lớp vỏ ngoài, vì những lý do nào đó, những cảm giác và những mục đích mà một cá nhân đã không những giấu kín người khác mà còn tự giấu ngay chính bản thân mình nữa. Trong tâm lý học của Freud, cõi vô thức là tối thượng và mọi hoạt động ý thức chỉ có một vị trí phụ thuộc. Nếu hiểu được cái thầm kín bí mật sâu xa của cõi vô thức ắt chúng ta hiểu được bản chất nội tâm của con người. Freud tuyên bố là chúng ta thường suy nghĩ một cách vô thức và chỉ thỉnh thoảng suy tư của chúng ta mới có tính chất ý thức. Tâm linh vô thức chính là nguồn gốc gây bệnh tâm thần, vì bệnh nhân thường cố gắng gạt ra ngoài cõi ý thức mọi ký ức khó chịu, mọi ước vọng bị "dồn nén" vô hiệu, nhưng kết quả là anh ta tích tụ ngày càng nhiều ký ức, những ước vọng, để dồn thành bệnh.

 Freud  phân loại mọi hoạt động tinh thần của mỗi nhân con người được thể hiện thành ba cấp độ được ông gọi là Tự Ngã (còn gọi là “Cái ấy” :Id. Soi); Bản Ngã ( Còn gọi là “Cái tôi” : ego moi) và Siêu Ngã ( còn gọi là “Siêu tôi”: superego Surmoi). Quan trọng số một là cái Id, Freud bảo: Phạm vi của Id là phần nhân cách tối tăm và không thể đi đến được của chúng ta. Bản thân ta chỉ biết chút ít về cái Id qua nghiên cứu các giấc mộng và qua sự biểu hiện các triệu chứng bên ngoài của bệnh tâm thần, Id là nơi trú ngụ các bản năng nguyên thuỷ và các xúc cảm đi ngược lên tới cái quá khứ xa xưa khi mà con người còn là một con thú, Id có tính chất thú vậy và bản chất của nó là thuộc về dục tính (sexual in nature), nó vốn vô thức. Freud viết tiếp: Cái Id bao gồm tất cả những gì do di truyền, có ngay từ lúc sinh ra được kết tụ lại trong sự cấu thành. Id mù quáng và độc ác. Mục đích độc nhất của nó là thoả mãn các ham muốn bản năng và các khoái cảm, không cần biết đến các hậu quả. Nói theo Thomas Mann thì: "Nó không biết gì đến giá trị, thiện hay ác, và cả đạo đức nữa".
Đứa bé sơ sinh là Id được nhân cách hóa. Dần dần cái Id phát triển lên thành cái Ego (bản ngã Moi). Khi đứa bé lớn lên. Thay vì được hoàn toàn dẫn dắt bằng nguyên lý khoái lạc, cái Ego bị chi phối bởi nguyên lý “thích ứng với thực tại”. Ego biết được thế giới xung quanh, nhận ra rằng phải kìm hãm những khuynh hướng phạm pháp của cái Id để ngăn ngừa mọi xung đột với luật lệ của xã hội. Như Freud viết, cái Ego là “viên trọng tài giữa những đòi hỏi bạt mạng của cái Id và sự kiểm soát của thế giới bên ngoài”. Vì vậy Ego thực sự hành động như một nhân viên kiểm duyệt, cắt xén, sửa đổi những thúc giục của cái Id làm cho những thúc giục này phù hợp với tình hình thực tế, biết rằng việc tránh khỏi bị xã hội trừng phạt và cả để tự bảo toàn hay là ngay cả đến sự bảo tồn, đều phải tùy thuộc vào những “dồn nén”. Tuy nhiên cuộc đấu tranh giữa cái Ego và Id có thể gây ra những bệnh tâm thần, ảnh hưởng nghiêm trọng tới nhân cách cá nhân.
Sau hết, còn một thứ yếu tố thứ ba trong quá trình sinh hoạt tinh thần gọi là Superego (Siêu ngã). Siêu ngã này có thể được định nghĩa một cách đại khái là “lương tâm”. Học trò chính của Freud ở Hoa Kỳ là A.A Brill đã viết: “Cái Superego là sự phát triển tinh thần cao hơn cả mà con người có thể đạt tới được và bao gồm lẫn lộn mọi sự cấm đoán, mọi quy tắc cư xử do cha mẹ tạo ra nơi đứa trẻ. Tri giác lương tâm hoàn toàn tùy thuộc vào sự phát triển của cái Superego.
Cũng như cái Id, cái Superego cũng nằm trong vô thức và cả hai cùng luôn ở thế tương tranh, trong khi cái Ego luôn hoạt động ở giữa như một trọng tài. Lý tưởng đạo đức và quy tắc cư xử đều nằm trong Superego. Khi ba cái Id, Ego và Superego tương đối hòa hợp thì cá nhân lúc ấy ở trạng thái điều hòa và hạnh phúc. Nếu cái Ego để cho cái Id vi phạm các luật lệ, cái Superego sẽ gây ra lo lắng, cảm giác có tội và mọi biểu lộ của lương tâm.


Nguyễn Xuân Hiến

Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2014

Truy tìm tự ngã



 


..........
Giáo nghĩa Phật dạy, có tác nghiệp thiện ác, có quả báo lành dữ, nhưng không có người hành động, không có người thọ quả. Đây là điều rất khó hiểu. 
Chúng ta nên đi từ cái dễ, rồi đến cái khó. Cái dễ hiểu là tất cả đều có một cái tôi: tôi đi, tôi đứng, tôi ăn, tôi ngủ, v.v... Nhưng khi người ta ngủ, mà ngủ như không chiêm bao, thì hình như cái tôi này biến mất. Hoặc như người bị tai nạn mà mất trí nhớ, không còn nhớ ra mình là ai. Nếu được chữa trị, trí nhớ phục hồi, bấy giờ vẫn là cái tôi như khi trước. Rồi khi người ta chết, cái tôi ấy còn hay không? Thừa nhận còn, tức là thừa nhận có linh hồn tồn tại bất biến, khi thức cũng như khi ngủ, lúc còn sống cũng như sau khi chết.
Đấy là kinh nghiệm thường nhật về một cái tôi. Kinh nghiệm ấy là sự tích lũy trong một đời người những hoài niệm, những đau khổ, hạnh phúc, những danh vọng, khốn cùng. Từ những kinh nghiệm tích lũy ấy mà hình thành ý tưởng về một cái tôi thường hằng. Trong trình độ thấp nhất, cái tôi ấy được đồng hóa với thân xác và những sở hữu cho thân xác. Vị đại hoàng đế có cả một đế quốc: ta và đế quốc của ta. Nhưng một khi thân xác này tan rã, mà chắc chắn là như vậy, thì ta là ai, mà đế quốc này là gì? Những hoàng đế ấy, như Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Thành Cát Tư Hãn, tin vào một cái ta và thân xác ta có thể tồn tại lâu dài, vì không muốn cái danh vọng, quyền lực đang có mất đi; họ đi tìm đạo sỹ, cầu thuốc trường sinh. Những người đi tìm trường sinh ấy, bây giờ ở đâu? 
Lại còn những người khác, giàu sang có cả một cơ đồ, nhưng khi thị trường chứng khoán sụp đổ, nhảy lầu tự tử. Ta và tài sản của ta; cái này mất thì cái kia cũng không còn lý do tồn tại. Thật sự thì ở đây ta là ai, trong cái cơ đồ phú quý ấy?
Với một hạng người khác, ta là danh, đã sinh ra trong trời đất, thì phải có danh gì với núi sông. Một mai vật đổi sao dời, để bảo tồn danh tiết, họ đâm cổ tự sát. Vậy, ta là gì trong cái danh này?
Với những tín đồ tôn giáo tin vào một linh hồn bất tử, một cái ta tồn tại trên thiên đường, hưởng những lạc thú mà Thượng đế ban cho vì đã biết phục tùng Thiên ý. Vì thế họ sẵn sàng giết đồng loại để chinh phục nước Chúa dưới trần gian.
Ta là ai, ta là cái gì, để vì phục vụ nó, bảo tồn nó, mà tự gây khổ cho mình, và cũng gây khổ cho người? Có chăng một cái ta thường hằng, siêu việt thân xác này, và tâm trí này, để cho mọi hành vi trong một đời người, dù thiện hay ác, ngu hay trí, chỉ nhằm mục đích là phục vụ nó, vì ích lợi của nó, vì hạnh phúc của nó, vì danh dự của nó, vì quyền lực của nó?
Trước khi muốn hỏi ta là ai, trước hết nên hỏi, từ đâu có ý tưởng về cái ta ấy?
Có một người mới mua về một con chó, đặt tên cho nó Lucky. Ban đầu, gọi Lucky, nó dửng dưng, vô cảm. Dần dần, nghe hai tiếng Lucky, nó mừng rỡ, ngoắt đuôi. Nó đã hiểu Lucky là cái gì, và như vậy nó cũng hiểu nó là cái gì. Nó hình thành một cái vỏ tự ngã mới qua một cái tên gọi mới. Trước khi có một tên gọi, nó vẫn tồn tại, và tự bảo vệ sự tồn tại ấy. Nó tìm thức ăn, tìm chỗ ngủ, và cắn bất cứ ai đến gần như muốn đe dọa, uy hiếp nó. Khi được đặt tên, toàn thể sự tồn tại ấy bây giờ tồn tại dưới một cái tên gọi Lucky. Dù vậy, nếu có ai xúc phạm đến cái tên Lucky, nó không có phản ứng gì. Nhưng với một con người, khi cái tên gọi, một cái danh gì đó, mà bị xúc phạm, thì hãy coi chừng. Tất nhiên, con người cho đến một tuổi nào đó mới biết nó tên gì, cũng như con Lucky vậy. Rõ ràng, cái danh mang nội hàm tự ngã ấy chỉ là hư danh, nhưng con người cũng như vậy đau khổ hay hạnh phúc bởi chính cái hư danh đó.
Một ông thầy giáo có cái ngã là thầy giáo. Ai xúc phạm đến danh từ thầy giáo, chức nghiệp nhà giáo, người ấy phải bị khiển trách.
Nó là ông vua, nhưng ban đêm lẻn ra ngoài thành chơi. Dân nào không biết mà đối xử vô lễ như với dân thường, hãy coi chừng.
Tự ngã chỉ là một cái danh, và đó là giả danh do nghề nghiệp, hay do chỗ ngồi, chỗ đứng giữa mọi người mà đạt thành. Cái giả danh chỉ mới hình thành trong một đời người thôi, mà đã khó quên, khó trừ như vậy; nếu là cái ngã được tích lũy trong nhiều đời, tất không dễ gì trừ bỏ.
Cái ngã của ông xã trưởng chỉ to bằng cái xã của ông. Cái ngã của một quốc vương to bằng cái vương quốc của ông. Cái ngã của một nhà thông kim bác cổ thì dài bằng thời gian kim cổ, rộng bằng không gian đông tây. Cái ngã của một chúng sinh luân hồi trong tam giới, tất cũng lớn bằng cả tam giới. Cái ngã ấy không phải dễ nhận ra. Không nhận ra nó, để thấy nó là thật hay giả, thì cũng không thể tận cùng biên giới đau khổ. 
Trong kinh Phật có một câu chuyện: Một thiên thần kia, hiện đến Phật, nói rằng trong quá khứ, ông là một tiên nhân, có tên là Ngựa Đỏ, có phép thần thông quảng đại. Ông muốn thấy được biên tế vũ trụ, để thấy được biên tế khổ, và chấm dứt khổ. Thế là ông bắt đầu đi tìm biên tế của vũ trụ. Tuổi thơ của ông bấy giờ dài đến một đại kiếp, đại khái là tỷ tỷ năm, nhưng không bao giờ thấy được cái biên tế của vũ trụ. Rồi ông hỏi Phật: “Có cần đi suốt cái biên tế vũ trụ này mới chấm dứt khổ không?” Phật xác nhận rằng, “Nếu không thấy được cái biên tế của vũ trụ thì không chấm dứt được khổ”. Đức Phật lại nói thêm: “Nhưng không cần. Chỉ trên cái thân cao một tầm này, với năm uẩn nầy, ta có thể biết được thế gian sinh, thế gian diệt”. 
Điều đó có nghĩa rằng, thân thể này, với xúc cảm này, với tư duy này, với nhận thức này, là tập hợp tích lũy cả một khối kinh nghiệm lớn bằng biên tế vũ trụ. Cái khối ấy đông kết thành cái vỏ cứng dày. Nó chỉ có thể bị đập vỡ bằng chày Kim-cang mà thôi.
Nói tóm lại, giáo nghĩa trong kinh Kim-cang bắt đầu bằng sự đối trị tự ngã: vô ngã tưởng, vô nhân tưởng… Trong các tôn giáo, trong mỗi hệ thống tư tưởng triết học, đều có riêng một quan niệm về tự ngã. Trong nhiều tôn giáo, tự ngã là linh hồn do Thượng đế ban cho. Giữ cho linh hồn đừng bị mất, để sau này được hưởng ân phước của Thượng đế, đó là mục đích đời người. 
Trong Nho giáo, người quân tử phải biết lập thân và lập danh. Lập thân cho hiện tại, lập danh cho hậu thế. Đó là xác lập tự ngã trong xã hội.
Lão Tử nói: ta có đại hoạn vì ta có thân. Nếu ta không có thân, nào đâu có đại hoạn? Đó là hãy sống trọn tuổi trời chớ đuổi theo hư danh, hãy để cho thân và danh cùng mục nát với cỏ cây.
Các đạo sĩ Upanishad đi tìm cái tự ngã chân thật là gì. Vượt ra ngoài cái tôi trong đời sống thường nhật, và cái tôi lang thang trong luân hồi để chịu đau khổ, có hay không có một cái tôi thường hằng, chân thật? Cái tôi như giọt nước biển bị cô lập trong một cái vỏ cứng nhỏ mọn, vô nghĩa, trôi nổi bồng bềnh trong đại dương; để rồi khi cái võ cứng ấy đạp vỡ, giọt nước ấy sẽ hòa tan vào nước biển trong đại dương. Khi ấy, Tiểu ngã hòa tan vào Đại ngã.
Trong Phật giáo, Tiểu ngã hay Đại ngã, chỉ là những khái niệm giả danh. Nhưng cái giả danh được đông kết bởi tích lũy vô số vọng tưởng điên đảo. Cái ngã được hình thành trong đời này, do ảnh hưởng truyền thống, tôn giáo, tư tưởng, xã hội, để từ đó hình thành một nhân cách, một linh hồn, và rồi chấp chặt vào đó để mà tồn tại. Cái đó được gọi là phân biệt ngã chấp.
Cái ngã do tích lũy từ điên đảo vọng tưởng nhiều đời, hình thành bản năng khát vọng sinh tồn nơi cả những sinh vật li ti nhất; đó là câu sinh ngã chấp.
Vì vậy, không cần đi tìm ở đâu Tiểu ngã và Đại ngã, mà cần diệt trừ khái niệm giả danh bởi vọng tưởng điên đảo.■ 
Thích Tuệ Sỹ
(Nguồn: TS. Pháp Luân số 60)