Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

Tự đo lường chính mình


Chào các bạn,
Trong vấn đề phát triển sức mạnh nội tâm, chỉ có bạn là biết nội tâm bạn. Chẳng ai khác biết. Dù là thầy có thể biết học trò đã phát triển đến đâu, cái biết đó vẫn không chính xác bằng học trò tự biết mình, với điều kiện là học trò “biết”.
Ta cần nhấn mạnh từ “biết”, vì nhiều người ngớ ngẩn đến nỗi chẳng hề biết mình – tưởng là mình biết mình, trong khi chẳng biết một chút nào, cứ nghĩ mình là thiên thần trong khi mình là khỉ nhảy choi choi.
Cho nên các bạn cần thông minh để tạo ra những cách để mình có thể biết chính mình và có thể đo lường chính mình.
Có một cách rất dễ để tự đo lường chính mình. Chúng ta đã nói “tĩnh lặng trong tất cả mọi hoàn cảnh, đối với tất cả mọi người, về tất cả mọi chuyện.” Tức là, tĩnh lặng vô điều kiện. Luôn tĩnh lặng như… Phật Thích Ca.
Có nghĩa là khi bạn mất tĩnh lặng – stress, nóng giận, lo sợ, bực tức – đó là dấu hiệu rất rõ là nội lực của bạn còn yếu.
Vậy, thay vì cứ suy nghĩ kiểu đang bị chìm đắm như là: hắn nói vậy tồi quá, chị ấy coi thường tôi quá, bực mình quá… tức là suy luận kiểu chìm đắm vào cái tôi, thì bạn chỉ cần nói lên sự thật trong lòng: Tôi đang bị xung động quá đỗi, vậy tôi phải tĩnh lặng lại và dẹp cái tôi sang một bên.
Giản dị có vậy.
Khi bạn mất tĩnh lặng, chỉ có một nghĩa là bạn nội lực còn kém.
Tĩnh lặng là tĩnh lặng vô điều kiện. Và bạn cần tĩnh lặng vô điều kiện để có thể khiêm tốn vô điều kiện, thành thật vô điều kiện, và yêu người vô điều kiện.
Đừng mù lòa với chính trái tim của mình.
Hãy tự biết trái tim của chính mình.
Chúc các bạn luôn tỉnh giác – tỉnh thức và biết rõ.
Mến,
Hoành

Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014

Nói về “thị phi” – Làm sao để bình tâm với “thị phi”?

Vì sao người ta sinh ra có 2 tai, 2 mắt mà chỉ có một cái miệng? Đó là bởi vì con người cần nghe và nhìn nhiều hơn nói. Người xưa có câu: “Bệnh từ miệng mà vào, họa từ miệng mà ra.” Ấy vậy mà ít ai chịu hiểu, thậm chí họ còn dùng tai, dùng mắt để hỗ trợ cho cái miệng liên tục “phát thanh”. Nói nhiều cũng không phải cái gì tệ lắm, khổ một nỗi là người ta không kiểm soát cái “nói” của họ cho tốt nên tạo thành biết bao chuyện “thị phi” làm khổ bản thân và người xung quanh.

Thị phi là gì?

Thị phi hiểu đơn giản là dư luận, là lời đồn. Trong đó tiếng Hán Việt thì “thị” là đúng, “phi” là sai, “thị phi” đi chung với nhau ý muốn nói miệng đời không lường được, ai muốn nói đúng nói sai thế nào thì nói. Trong bài viết này tôi tạm hiểu thị phi là lời lẽ dành cho một người từ phía những người khác nhau trong xã hội.


Có mấy loại thị phi?

  1. Nói quá: Loại này thường gặp nhất, cùng với tư tưởng “không có lửa làm sao có khói” và tinh thần “tam sao thất bản” nên sau vài lần truyền miệng cho nhau thì “sự thật” trở nên vô cùng to lớn và nguy hiểm. Ví dụ: người A thấy cô Y về nhà lúc 11h đêm, gặp người B nói: “Dạo này con Y hay đi đâu về khuya lắm, có hôm 1 giờ sáng mới mò về.” Xong người B gặp người C nói: “Con Y giờ ăn chơi nhậu nhẹt dữ quá, khuya lơ khuya lắc mới về nhà.” Người C lại nói với người D: “Con Y hư hỏng thật rồi, bỏ nhà đi mấy hôm mới về đấy!”….(truyện dài kỳ, thôi không kể nữa)
  2. Đặt điều nói xấu: Loại này ít hơn, nhưng cũng ác hơn! Thường là họ ghen tức một điểm gì đó ở đối tượng nên tìm cách bôi nhọ cho thỏa lòng, họ sẽ đặt ra một số “giả thuyết” và suốt ngày nói về nó kiểu: “Không làm gì bất chính làm sao giàu thế được” hay “Nhìn nó xinh vậy chứ ai biết nó che dấu chuyện gì, hôm nọ tôi thấy @$@$@%…”
  3. Châm chích quá khứ của người khác: Loại này là ác nhất. Họ nói những chuyện có thật, nhưng đó là những lỗi lầm của đối tượng trong quá khứ. Chuyện đã qua rồi nhưng họ cứ nhai đi nhai lại, hiện tại người ta đã thay đổi nhưng với họ thì người đó vẫn xấu xa và họ muốn cả thế giới biết điều đó. Có vẻ như người khác tốt lên thì họ không cam tâm vậy.
Như 3 loại tôi vừa kể trên là những loại thị phi từ những kẻ vô tri cho đến kẻ xấu, có thể còn một số loại khác nữa.

Làm sao để bình tâm với thị phi?

  1. Tuyệt đối đừng tranh cãi, thanh minh với những người cố tình đặt điều nói xấu bạn, điều đó chỉ tạo thêm hứng thú cho họ mà thôi. Càng nói nhiều sẽ càng xuất hiện nhiều điểm sai lầm để cho họ phanh phui, mổ xẻ. Hơn nữa những người ngoài cuộc cũng sẽ bắt đầu nghi ngờ bạn.
  2. Im lặng, phớt lờ: đây là giải pháp được khá nhiều người lựa chọn, và nó cũng hữu hiệu trong khá nhiều trường hợp, nhưng không phải là giải pháp ổn thỏa và lâu dài. Hãy tưởng tượng giống như bạn mặc áo mưa và đi trong mưa vậy, dù áo mưa có tốt cỡ nào nhưng nếu bạn đi lâu, thật lâu trong mưa thì vẫn lạnh và ướt. Im lặng và nhẫn nhịn với những cơn mưa nhỏ thôi.
  3. Giải pháp hữu hiệu nhất nhưng cũng khó khăn nhất là thông cảm: đây cũng giống như việc mua một cái áo mưa và mua một cái nhà để che mưa vậy, nhưng nếu bạn mua được cái nhà thì sẽ không còn sợ mưa gió nữa, lúc đó bạn có thể thoải mái ngồi ngắm mưa. Khi có người công kích, nói xấu bạn, trước hết hãy dành thời gian nhìn lại bản thân mình theo những gì người đó nói, có bao nhiêu phần trăm là đúng. Đừng tức giận, bỏ quên người nói đó đi và tập trung tìm hiểu bản thân bạn, như vậy vừa lợi vừa không tức giận. Bước tiếp theo là thông cảm cho người nói xấu mình: tại sao họ phải làm điều đó? Họ tức giận như thế nào, họ được giáo dục ra sao? Nói vậy thì có lợi, có hại gì cho họ…. Lúc này bạn hoàn toàn đi suy nghĩ cho người kia mà quên luôn họ đang nói xấu bạn. Khi hoàn thành bước này, bạn lại thấy thương, thấy tội nghiệp cho họ, chỉ vậy thôi.
  4. Dùng biện pháp mạnh khi cần: Cuộc đời không phải thiên đường nên vẫn còn nhiều kẻ ác. Vâng, ác chứ không phải xấu bình thường nữa. Nghĩa là khi bạn đã phớt lờ, lặng im, thông cảm mà họ vẫn cứ làm tới, làm hoài. Có thể họ bị sai khiến hay là nguyên nhân nào khác nhưng họ không chịu buông tha bạn mà vẫn tiếp tục đặt điều nói xấu, bôi nhọ danh dự bạn thì tốt nhất là bạn lẳng lặng thu thập chứng cứ và kiện ra tòa. Xin nhớ nguyên tắc đầu tiên là đừng tranh cãi với họ làm chi vô ích nhé. Hy vọng bạn không bao giờ phải dùng đến bước này.
Theo Phật giáo, khẩu nghiệp là một trong những nghiệp nặng nề nhất mà một người có thể tạo ra. Vết thương bạn gây ra trên thân thể người khác còn có ngày lành, còn vết thương gây ra do lời nói thì chẳng biết khi nào mới lành lặn được. Hãy cẩn trọng với lời nói của mình, đừng gây ra thị phi vì vô ý thức, cũng đừng nên vì một ai đó đã gây ra lỗi lầm trong quá khứ mà dùng lời lẽ nặng nề để hành hạ họ, như Oscar Wilde có nói:
“Every saint has a past, every sinner has a future.”
Nghĩa là: “Vị thánh nào cũng có một quá khứ, và tội đồ nào cũng có một tương lai.”
Chúng ta đều là người, chẳng ai hoàn hảo. Hãy tha thứ và nhìn nhau bằng những mặt tốt đẹp, hãy khen tặng và động viên nhau để cùng phát triển chứ đừng trù dập, mỉa mai nhau. Bạn chẳng thể nào cao hơn chỉ bằng việc đạp người khác xuống đâu. Xin được kết thúc bài viết này bằng một câu chuyện của Socrates mà tôi rất tâm đắc:
Chuyện gì nên nói?
Nguời hàng xóm đến gặp Socrates.- “Này ông Socrates ơi, ông có nghe chuyện này chưa?”
- “Khoan đã!” -Socrates ngắt lời người hàng xóm- “Anh có chắc rằng tất cả những gì anh sắp kể cho tôi đều đúng sự thật không?”
- “Ồ… cũng không chắc nữa. Tôi chỉ nghe người ta kể lại thôi.”
- “Thế à, Vậy chúng ta không cần quan tâm đến nó trừ phi nó là một chuyện tốt. Đó có phải là một chuyện tốt không?”-Socrates hỏi.
-”À không, không tốt. Đây là một chuyện xấu.”
- “Chà, anh có nghĩ tôi cần phải biết chuyện ấy để giúp ngăn ngừa những điều không hay cho người khác không?”
- “Ờ, ờ… quả thực cũng không cần lắm,”- Người hàng xóm trả lời.
“Tốt lắm,”- Socrates kết luận - “Vậy thì chúng ta hãy quên nó đi, bạn nhé. Còn có vô số chuyện đáng giá hơn trong đời sống. Chúng ta không thể mất công bận tâm tới những chuyện tầm phào, những chuyện vừa không đúng, vừa không tốt, vừa không cần thiết cho ai.”
Chúc bạn luôn an lành, và mong bạn để người xung quanh được an lành.

Nguyễn Huỳnh Nhất Bảo
28/7/2014

Thứ Sáu, 14 tháng 3, 2014

Không chẳng thể bị thương

Woman-Warrior

Chào các bạn,
Làm sao để trái tim của chúng ta luôn bình an và đầy yêu thương trong một thế giới đầy nhiễu loạn và đao kiếm?
Nói đến đao kiếm tự nhiên mình nghĩ đến hình ảnh một kiếm sĩ múa bài Mai Hoa Kiếm vùn vụt, kiếm điểm như những hoa mai lấp lánh trên không, tiếng kiếm chém gió vun vút, những chiếc lá vàng dưới đất xoay tròn theo gió kiếm.

Kiếm sĩ ngừng tay. Ngàn cánh mai biến mất. Vòng lá vàng ngừng xoay. Mặt kiếm sĩ lấm tấm mồ hôi.
Và Không trung chẳng bị một thương tích nào, chẳng thay đổi một chút nào, sau hàng trăm nhát chém. Bầu Không khí vẫn mát mẻ yên ắng như trước.
Đã là Không thì chẳng đao kiếm nào có thể làm gì được.
Nếu lòng ta Không chấp vào bất kì điều gì, thì chẳng đao kiếm nào có thể tổn thương ta được.
Có tiền nhưng Không chấp vào tiền
Có danh dự nhưng Không chấp vào danh dự
Có địa vị nhưng Không chấp vào địa vị
Có tình nhưng Không chấp vào tình
Có sắc đẹp nhưng Không chấp vào sắc đẹp
Có tài sản nhưng sẵn sàng làm ăn mày
Có đời sống nhưng sẵn sàng chết

Nếu Không chấp như thế, thì đao kiếm nào có thể làm cho ta gãy?
Có mà Không chấp, Không có mà Không chấp. Đó là, Có mà là Không, Không mà là Có.
Chữ Không thật là mầu nhiệm. Chữ Không làm cho một người tầm thường trở thành thánh nhân.
Các bạn, nhiều kinh sách lý luận về chữ Không điên cả cái đầu. Nhưng bạn không cần suy nghĩ gì cả. Bạn chỉ cần sống Không chấp vào đâu, Không chấp vào điều gì, thì bạn sẽ hiểu Không rất rõ.
Có thì có thể có mọi thứ. Nhưng chấp thì Không chấp vào thứ nào. Giản dị thế.
Ưng vô sở trụ. Không trụ (chấp) vào nơi đâu.
Vậy thì không còn đao kiếm nào có thể gây thương tích khổ đau cho bạn.
Chúc các bạn luôn nhẹ nhàng như Không.
Mến,
Hoành
© copyright 2014
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Phạm Thu Hường
Em cảm ơn anh, em cảm nhận được tự do tuyệt đối chỉ trong một từ Không (sau khi tìm kiếm và theo đuổi rất nhiều từ Có ^^).
Em cảm nhận là: “Có mà Không chấp” cần bản lĩnh với chính mình, “Không có mà Không chấp” cần bản lĩnh trong liên hệ với người khác (vì áp lực xã hội là phải Có danh, tài, lực,…), nhưng nếu mình có tự tin trong tâm linh thì sẽ vượt qua được những áp lực đó.
Cảm ơn câu chúc “nhẹ nhàng như Không” của anh ạ :)
Em Hường

Thứ Năm, 13 tháng 3, 2014

“Sử dụng” cảm xúc và vui buồn sướng khổ

Bích Tâm (Diễn Ngôn)
 
Nếu các bạn làm một động tác tìm kiếm trên google với cụm từ “quản lý cảm xúc” thì trong vòng 0,16 giây bạn có được 530.000 kết quả. Nếu tìm kiếm trên amazone với cụm từ này thì sẽ thấy 6.303 cuốn sách (chưa kể những cuốn sách khác có thể về nội dung đó nhưng không đặt trực tiếp tựa đề là quản lý cảm xúc). Có vẻ như xã hội phát triển, nhịp sống nhanh hơn, nhiều tương tác hơn thì những vấn đề liên quan đến cảm xúc cũng xuất hiện nhiều hơn và người ta cần học cách quản lý nó. Còn một lý do nữa mà quản lý cảm xúc là một chủ đề nóng bởi cảm xúc là thứ tác động ngay đến hành động tiếp theo của chúng ta.






“Sử dụng” cảm xúc và vui buồn sướng khổ

Vậy thế nào là quản lý cảm xúc? Quản lý cảm xúc liệu có phải là giết chết cảm xúc tiêu cực hay có phải là không thể hiện cảm xúc? Có một câu nói rằng, “Bạn không thể quyết định là bạn cảm thấy như thế nào nhưng bạn có thể quyết định là mình làm gì với cảm xúc đó” vậy thì liệu có phải “quản lý cảm xúc” là chỉ khi có cảm xúc rồi thì học cách quản lý nó hay quản lý cảm xúc còn là chủ động tạo ra những cảm xúc cần thiết? 
Để quản lý được cảm xúc, chúng ta hãy cùng tìm hiểu một câu chuyện. Chuyện này xảy ra trong một toa tàu với một người đàn ông đi cùng 3 đứa trẻ. Cùng trong toa có thêm một số hành khách khác. Tàu chuyển bánh được một lúc thì những đứa trẻ bắt đầu la hét, đánh nhau, dành nhau đồ chơi v.v. gây ra rất nhiều tiếng ồn ào. Trong khi đó người đàn ông là cha của 3 đứa trẻ thì chỉ nhắc nhưng khi những đứa trẻ không nghe thì người cha cũng không làm gì thêm. Hành khách rất khó chịu. Lúc đầu họ quay sang nhìn và có ý nhắc người cha, một số người hắng giọng, trở mình trên ghế, lấy khăn bịt qua đầu để che cả tai v.v. Sau một hồi tỏ thái độ và không thấy có chuyển biến, những đứa trẻ vẫn tiếp tục la hét, một hành khách đứng phắt dậy, tiến đến chỗ người cha và lớn tiếng rất tức giận “ông có nhận thấy là các con mình đang làm phiền người khác không? ông cố tình để con mình làm loạn lên. Nếu ông không quản lý được con chúng tôi buộc sẽ phải mời người quản lý trên tàu đến để giải quyết”. Ngay lập tức, những người khác cũng nhao nhao lên tiếng tỏ vẻ bất bình. Người cha, ngước mắt lên và chậm rãi nói: tôi rất xin lỗi đã làm phiền các vị. Vợ tôi mới mất vì tai nạn cách đây 5 ngày và giờ tôi đang phải đưa các cháu về gửi bà Ngoại một thời gian. Các cháu đang bị khủng hoảng vì Mẹ ra đi đột ngột và bản thân tôi cũng vậy nên tôi không biết phải làm thế nào. Người hành khách vừa lên tiếng gay gắt sững lại vài giây rồi quay về chỗ ngồi và quay lại với một túi bánh nhỏ đưa cho lũ trẻ. Những người còn lại trên toa tàu cũng thay đổi hẳn thái độ, khi những đứa trẻ la hét, một vài người đến gần, bày một số trò cho chúng chơi cùng v.v.


Câu hỏi đặt ra là điều gì đã làm thay đổi cảm xúc của những người hành khách từ tức giận sang yêu thương và sẻ chia? Đó là vì họ đã có những câu chuyện khác lý giải hành vi làm ồn của tụi trẻ. Lúc mới lên tàu, khi chứng kiến lũ trẻ la hét, câu chuyện mà những hành khách khác có trong đầu có thể là “lũ trẻ hư, người cha quá nuông chiều, không tôn trọng những người xung quanh” chính cái chi tiết “không tôn trọng” trong câu chuyện họ phát triển trong đầu đã làm cho nhóm hành khách này thấy bị xúc phạm và tức giận. Sau khi nghe giải thích của người cha, họ có một câu chuyện khác, một câu chuyện về những đứa trẻ đang trải qua khủng hoảng và cần được giúp đỡ, và câu chuyện này đã tạo ra trong họ cảm xúc thương cảm và muốn làm gì đó giúp.


Như vậy là cảm xúc tạo ra bởi những câu chuyện chúng ta tự kể trong đầu khi chứng kiến những hành động hoặc trải qua những sự kiện nhất định nào đó. Những sự kiện, con số, những gì xảy ra là khách quan nhưng cách chúng ta chọn chi tiết và sắp xếp chúng lại rồi đặt cho những chi tiết đó một ý nghĩa nào đó thì lại là chủ quan của chúng ta. Điều đó lý giải vì sao cùng trải qua một sự việc nhưng cảm xúc của mọi người lại có thể rất khác nhau. Ví dụ cùng đọc tin về việc xả lũ ở miền Trung làm hàng chục người chết và mất tích nhưng có thể có những người hoàn toàn không bị tác động gì (câu chuyện họ có chỉ là việc xảy ra ở miền Trung, đâu phải Hà Nội), có những người thấy thương cảm, muốn làm gì đó cho để giúp những nạn nhân (vì trong câu chuyện của họ có nước mắt của những người mất đi người thân), có những người sẽ thấy tức giận với những đơn vị xây nhà máy thủy điện và quản lý đập (câu chuyện của họ có cả những thông tin về việc xả lũ đúng vào ngày mưa ngập, xả lũ đột ngột nên người dân không kịp xoay sở, xây đập tràn lan).


Có lẽ quản lý cảm xúc theo kiểu “làm gì khi nóng giận” v.v đã được nói tới nhiều rồi, chia sẻ nhiều rồi. Trong bài viết này, tôi chỉ muốn đưa thêm một cách nhìn nữa về quản lý cảm xúc là hãy biết chắt lọc thông tin cho những câu chuyện tự kể để tạo ra những cảm xúc đúng đắn cho những hành động phù hợp. Hãy tìm ý nghĩ của mỗi thực hành văn hóa để xúc động trước cái đẹp của những nền văn hóa khác nhau và hành động tiếp theo là bảo vệ cái đẹp, tôn vinh sự đa dạng. Hãy đặt câu hỏi phản biện trước những sự thật tưởng như là hiển nhiên để có thể biết tức giận, bất bình trước những bất công rồi từ đó biết lên tiếng bảo vệ cho sự công bằng. Và hãy biết xấu hổ khi một lần không thực hiện đúng trọng trách dẫn đến một quyết định sai lầm để dũng cảm sống đúng là mình và để sau này không phải nói rằng “tôi rất ân hận”.


Thứ Tư, 12 tháng 3, 2014

Từ tâm


Vài người bạn nói với tôi rằng trong khi tình yêu và lòng từ thật tuyệt vời và tốt đẹp, các đức tính đó thật ra chẳng liên can gì đến ta. Thể giới của chúng ta, họ nói, không phải là nơi những đức tính đó có ảnh hưởng và quyền lực. Họ cho rằng, sự giận dữ và hận thù là phần rất thiết yếu của bản chất con người, đến nỗi nhân loại sẽ luôn luôn bị thống trị bởi giận dữ và hận thù. Tôi không đồng ý với quan điểm này.
.
Con người chúng ta tồn tại trong tình trạng như hiện nay đã khoảng một trăm ngàn năm. Tôi tin rằng, trong khoảng thời gian này, nếu nhân tâm chủ yếu bị chi phối bới giận dữ và hận thù, nhân số chúng ta sẽ giảm. Nhưng ngày nay, dù có chiến tranh, dân số thế giới cao hơn bao giờ hết. Điều này cho tôi thấy, trong khi giận dữ và gây gổ chắc chắn có, tình yêu và lòng từ thống trị thế giới. Đó cũng là lý do tại sao mà cái chúng ta gọi là “tin tức” thường gồm các tin không vui hay bi thảm; các hoạt động đầy tình thương là phần lớn của cuộc sống hàng ngày nên các hoạt động đó được coi là đương nhiên và do đó thường bị lờ đi.
.
helpinghand


…Chúng ta, suy cho cùng, là các động vật mang tính xã hội. Nếu chẳng có tình bạn giữa con người, nụ cười của con người, cuộc đời chúng ta sẽ trở nên đau khổ. Sự cô đơn sẽ trở nên ngoài sức chịu đựng. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa người và người là một quy luật tự nhiên, tức là, theo quy luật đó, chúng ta phụ thuộc vào nhau để sống. Nếu, trong tình cảnh nào đó, bởi vì có điều gì không ổn trong lòng chúng ta, thái độ của chúng ta đối với anh em đồng loại, mà chúng ta phụ thuộc, trở nên thù đich, thì làm sao chúng ta có thể hy vọng có được sự thanh bình trong tâm hay một cuộc sống hạnh phúc? Theo bản tính tự nhiên của con người hay luật tự nhiên, phụ thuộc lẫn nhau – cho và nhận tình nhân ái – là chìa khóa của hạnh phúc.

(From The Compassionate Life by Tenzin Gyatso, the Fourteenth Dalai Lama.
Trích từ Đời Sống Từ Ni của Dat Lai Lat Ma thứ 14.
Nguyến Minh Hiển dịch)

Thứ Ba, 11 tháng 3, 2014

Tâm linh là thực hành

Chào các bạn,

Năm 18 tuổi mình bắt đầu làm quen với Phật triết khi học triết lý đông phương ở Đại học Văn khoa Sài Gòn (mà ngày nay gọi là Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn) trên đường Đinh Tiên Hoàng. (Mình có nhiều kỷ niệm đáng yêu ở đó, nên nhắc đến trường là muốn kể chuyện. Nhưng phải dành khi khác vậy).
Vào thời đó các điểm chính của Phật pháp như là vô thường, vô chấp, vô trụ, sắc không không sắc (Bát Nhã Tâm Kinh) mình đều biết hết và có thể nói nghe rất uyên bác và xôm tụ, nhưng mình cũng biết rất rõ là mình không hiểu gì cả, điều gì cũng mờ mờ ảo ảo trong đầu, suy nghĩ nhức cả đầu mà không thấy sáng hơn chút nào. Chỉ có một điều tốt là trong những năm đó mình chẳng bao giờ nói về Phật pháp và không hề dùng từ ngữ để khoa trương là “tôi biết”.

Cho đến năm 40 tuổi, mình nghiên cứu lại kinh sách nhà Phật và lần này mọi sự bỗng nhiên hiện ra trong đầu mình rõ như 2 cộng 2 là 4. Mình hiểu ra là lý thuyết nhà Phật chỉ hiểu được khi mình đã trải qua rất nhiều kinh nghiệm đời.
Rồi mình nghĩ lại, “Tại sao các thầy của mình ngày trước, là các thầy rất nổi tiếng, lại không thể giải thích cho mình hiểu được, dù mình đọc sách của các vị rất kỹ, các vị viết rất dễ hiểu, và mình là học trò thông minh?”.
“Làm sao để mình có thể nói về Phật pháp để các vị còn trẻ như mình ngày xưa hiểu được Phật pháp?”
Và từ kinh nghiệm của mình, mình nhận ra rằng sở dĩ ngày trước mình không hiểu vì mình đọc sách như là lý thuyết và cố gắng hiểu như là lý thuyết và lý luận. Nhưng Phật pháp là sống thực. Phải sống Phật pháp thì mới hiểu Phật pháp. Ngày xưa, tất cả các thầy viết sách mà mình đọc, đều có một lỗi rất lớn là không nói cho học trò biết “Phật pháp là sống. Phải sống mới hiểu. Đọc mà không sống, thì không thể hiểu.” Cho nên đại đa số học trò, đọc Phật pháp như là một loại kiến thức khoa bảng, nghĩ rằng Phật pháp có thể hiểu được qua ngôn từ, càng đọc càng giỏi. Chính vì vậy mà có rất ít người học Phật pháp mà hiểu được.
Phật pháp là một môn nghệ thuật sống. Như tất cả mọi môn nghệ thuật khác—âm nhạc, hội họa, nấu nướng, vũ, võ, yoga—lý thuyết chiếm 1/100 của môn học, phần thực hành chiếm 99%. Thực hành càng lâu mình càng giỏi và càng khám phá ra nhiều bí ẩn mà các tôn sư đã nói nhưng chẳng mấy ai hiểu.
Cho nên mỗi khái niệm Phật pháp, bạn phải sống với nó. Vô thường, thì sống với đời vô thường, xem đổi thay là chuyện hiển nhiên và sống tự tại với vô thường. Vô chấp thì đừng bám vào đâu, mặc dù có thể bám mọi nơi. Vô ngã thì sống với cái nhìn mọi thứ là Không (nhất thiết pháp giai Không) kể cả chính mình. Tĩnh lặng thì tập sống với kinh nghiệm không có điều gì làm mặt hồ của mình xung động dù là một hòn đá nhỏ cũng làm cho mặt hồ của mình rung động. Từ tâm (yêu người) thì tập từ tâm với tất cả mọi chúng sinh, vô điều kiện…
Vấn đề của thế giới chúng ta là chúng ta thích nói pháp hơn là hành pháp. Phật pháp kì diệu, nhưng ta chỉ thấy được các điều kì diệu khi ta thực hành Phật pháp nghiêm chỉnh.
Và mình cũng có thể nói về Thánh kinh y hệt như mình nói về Phật pháp như thế.
Chúc các bạn luôn tinh tấn.
Mến,
Hoành
© copyright 2014
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014

Tách trà



 


Nan-in, một thiền sư thời Minh Trị Thiên Hoàng (1868-1912), tiếp một giáo sư đại học 
đến để hỏi về Thiền. Nan-in rót trà. Thiền sư rót đầy tách của giáo sư, và cứ tiếp tục rót.
Vị giáo sư nhìn trà tràn ra ngoài cho đến lúc ông không nhịn được nữa, “Tràn ra ngoài 
rồi, không thêm được nữa!”
“Như là tách trà này,” Nan-in nói, “ông đầy ý kiến và phỏng đoán. Làm sao tôi có thể chỉ 
Thiền cho ông nếu ông không đổ sạch tách của ông trước?”

(101 truyện Thiền do thiền sư Nhật Mujū (無住 , Vô Trú) viết vào thế kỷ 
mười ba)

Bình
Đạo Phật đề cao tinh thần phá chấp và hỉ xả: không bám chặt những tư tưởng của riêng mình và luôn luôn hoan hỉ đón nhận những tư tưởng đúng đắn, tốt đẹp của người khác.

Hình ảnh chiếc chén không, diễn tả tinh thần hỉ xả, sẵn sàng chấp nhận chân lý bất cứ đến từ đâu.

Chuyện thiền trên đây nhằm đả kích chủ nghĩa giáo điều hẹp hòi và tinh thần cố chấp thường gặp ở những người trí thức vậy. 

Câu chuyện này không nhất thiết chỉ đúng cho học Thiền. Muốn tìm hiểu bất kỳ điều gì ờ 
đời–một tôn giáo, một người, một nhóm người, một nền văn hóa, một dân tộc, một lịch 
sử, một vụ kiện, v.v… chúng ta phải đổ sạch tách thành kiến, giả định, phỏng đoán và kết 
luận trong đầu–một cái tách trống rỗng, một tờ giấy trắng tinh–thì chúng ta mới có thể 
học hỏi được.

Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014

Chuyện tín ngưỡng

“Tín” là niềm tin, “ngưỡng” là ngửa mặt lên. Có thể hiểu tín ngưỡng là niềm tin thiêng liêng. Cơ sở của tín ngưỡng, theo Wikipedia “là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào những cái "siêu nhiên" (hay nói gọn lại là "cái thiêng") - cái đối lập với cái "trần tục", cái hiện hữu mà con người có thể sờ mó, quan sát được”.

Tín ngưỡng chỉ có thể là một nét đẹp văn hóa khi nhờ tín ngưỡng, con người được tôn vinh, cuộc sống của con người thêm đẹp đẽ, quan hệ giữa con người với nhau thêm thân thiện. Con người chẳng mấy ai không khỏi những sai lầm trong cuộc sống, với niềm tin vào một Đấng cao cả (có thể là Chúa, là Phật, … tùy theo niềm tin tôn giáo của riêng từng người), người ta có thể giãi bày, sẻ chia nỗi ăn năn như để mong một sự tha thứ; Cuộc sống vật chất còn nhiều thiếu thốn, vất vả, người ta tìm đến tín ngưỡng để tin tưởng vào tương lai, chờ mong một ngày mai tốt đẹp. Cuộc sống còn nhiều bất công, ngang trái, người ta tìm tới tín ngưỡng để hy vọng vào sự công bằng ở ngày mai. Đến với tín ngưỡng, con người được nâng cao cái phần “người”, trở nên cao thượng, thánh thiện, sống thanh thản giữa bộn bề lo toan.

Tới những ngôi chùa ở Thái Lan, ở Myanmar, sao mình thấy hình ảnh của chùa chiền, hình ảnh người ta đi lễ chùa thật đẹp, thật đáng ngưỡng mộ. Cái tư thái thong dong, chậm rãi những nét mặt khoan hòa, những tràng hoa ngát hương và để chia sẻ nỗi niềm với Đức Phật, sau khi đặt chút phẩm vật đơn sơ nhưng tinh khiết lên ban thờ, người ta tới một nơi yên tĩnh (dưới một gốc cây, dưới chân pho tượng, hoặc đơn giản, chỉ là một góc vắng vẻ nơi sân chùa), hai tay chắp trước ngực, mặt ngẩng lên cao, lặng lẽ có thể tới nhiều giờ như thầm sẻ chia, như đang lắng nghe những lời khuyên nhủ, vỗ về, an ủi.

Mà chẳng cần so sánh với những xứ lân bang, ngay với nước mình chuyện tín ngưỡng xưa và nay cũng cách nhau một trời một vực.

Xưa, những ngôi chùa nép mình dưới những tán cổ thụ, vườn cây râm mát, trầm mặc với vẻ rêu phong, vô cùng gần gũi với con người nghèo khổ; nay chùa chiền thi nhau khoe kỷ lục, trắng lốp, vàng chóe, đỏ rực như để khỏi thua kém những nhà hàng khách sạn nhiều sao, những quán bar inh tai nhức óc bởi âm thanh chát chúa.

Xưa các nhà sư trong bộ quần áo nâu sồng khắc khổ, cặm cụi trên những mành vườn chùa, ruộng chùa làm kế sinh nhai, lặng lẽ suốt đời theo tấm gương từ bi hỷ xả của Đức Phật; nay, các nhà sư áo mũ xênh xang, mặt mũi phương phi, đầy vẻ viên mãn hiên ngang bước lên nhận đủ thứ huân chương, bằng khen, phẩm hàm đậm mùi ham hố trần tục.

Xưa người ta tới chùa với những bông hoa, chùm quả còn ướt sương đêm và lòng thành kính; nay mang tới chùa những mâm cao cỗ đầy, nhưng hầu hết là của giả với màu sắc sặc sỡ để khoe với thiên hạ và để hy vọng lễ cao lộc hậu.

Xưa các bà, các chị thường tới những ngôi chùa quen thuộc vào ngày Tết, ngày rằm, mồng một, gửi gắm niềm tin vào một nơi mà nhiều khi suốt đời không thay đổi; nay, người ta đi đủ nơi đủ chốn, cầu xin đủ loại thánh thần, không biết đó là ai, chỉ cần nghe “thiêng lắm” là không quản đường xa cách trở như không thể bỏ lỡ cơ hội đầu tư với phương châm sống “trăm bó đuốc ắt bắt được con ếch”. Và không thể chờ đợi, người ta phải lập tức nhét những tờ giấy bạc nhàu nhĩ vào đủ nơi trên tượng Phật theo triết lý sống “mì ăn liền”.

Xưa người đi chùa lễ Phật thường là các bà các chị, đàn ông có tới chùa phần lớn chỉ vì nơi danh lam thường cũng là thắng cảnh. Tới chùa lễ Phật nhưng nhiều phần là để hưởng cái thú tiêu dao, bầu rượu túi thơ giữa cảnh nước non hữu tình; nay đàn ông tới chùa đông hơn nhiều và thường chiếm ưu thế nhờ sức dài vai rộng, trong các cuộc tranh cướp những ấn, những lộc không chịu thua kém ai.
….
Một khi con người bị tầm thường hóa bởi những khát vọng vật chất, bởi sự bon chen giành giật, cầu xin khẩn khoản, thậm chí tranh đoạt thô bạo, liệu cái tín ngưỡng ấy có đáng để tôn vinh?

Hồi còn đi học, một hôm, mấy đứa tới chơi nhà thầy. Lật xem cuốn Larousse (Từ điển bách khoa Pháp) để trên bàn, thấy mấy bức tranh khỏa thân của các họa sĩ thời Phục hưng, bọn học trò chỉ trỏ, nhấm nháy. Thầy phát hiện được, mỉm cười, hỏi:
- Có biết tại sao người ta cấm văn hóa đồi trụy, đốt hết những tranh ảnh khỏa thân mà trong cuốn sách tập trung cái tinh hoa của văn hóa thế giới lại có những bức tranh này không?
Quả là thầy đã rất nhanh chóng hiểu được nỗi băn khoăn của lũ học trò còn thơ dại. Tất cả đều chăm chú lắng nghe lời thầy giải thích. Thầy nói khá dài, hơn 50 năm, không còn nhớ được bao nhiêu, và cũng hơn nửa thế kỷ, cách hiểu của thầy có thể đến nay không còn hoàn toàn phù hợp, nhưng dù thời gian đã gần hết cuộc đời con người, tôi vẫn nhớ ý của thầy: Cái gì tôn vinh con người, làm cho con người trở nên tốt đẹp, thăng hoa, …là cái văn hóa chân chính, đáng ngưỡng mộ, còn những gì kích thích cái phần bản năng khiến con người trở nên thấp hèn đều có thể coi là đồi trụy.

Phải chăng, tín ngưỡng của nước Nam ta bây giờ đã trở thành loại tín ngưỡng đồi trụy?

Cũng thời còn đi học, môn chính trị (học phổ thông, chứ không phải đại học!), nghe thầy dạy “tôn giáo là thuốc phiện” (sau này lớn lên, mới biết vốn là lời của C. Mác: Tôn giáo là thuốc phiện mê hoặc quần chúng.)

Lúc ấy còn trẻ con, chẳng hiểu ra thế nào. Nhưng bây giờ thì hiểu rồi!


Dương Đinh Giao

Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Đời sống tâm linh của con người

Mỗi con người đều sống vớithế giới hiện hữu, với những nhu cầu hiện hữu, với nhữnghoạt động hiện hữu. Điều đó do tính sinh học và tính xã hội củacon người qui định. Không ai có thể sống mà không thỏa mãn được nhữngnhu cầu sinh học và xã hội của mình. Nói như Marx, ăn, mặc, ở, đilại, giao tiếp... là những nhu cầu đầu tiên mà con người phải thỏamãn. Toàn bộ đời sống hiện hữu của con người đều có nguồn gốctừ động vật (cả tính sinh học lẫn tính xã hội, tính quần thể), vànhiều lắm cũng chỉ là nhân (hay kéo dài) những năng lực động vậtlên”

“Cái thiêng liêng là một trongnhững cái không thể nhận biết bằng lý trí. Vì một khi đã nhận biếtđược một đối tượng thiêng liêng bằng lý trí (bằng khám phá và kiểmnghiệm khoa học), thì nó không còn là thiêng liêng nữa. Cũng có thểnói như vậy về chân, mỹ, thiện. Người ta bao giờ cũng hướng tớinhững cái đó, nhưng không bao giờ có thể đạt tới ở mức cuối cùng.Tất cả những gì là thiêng liêng, là cao cả bao giờ cũng vẫy gọi conngười, làm cho nó luôn luôn tự vượt mình, hướng tới cái cao hơn(hướng thượng), hướng tới cái siêu việt, tới trạng thái chân hơn,mỹ hơn, thiện hơn. Xu hướng ấy của con người tạo ra mộtmặt cơ bản của đời sống con người: đờisống tâm linh”.

Cái làm cho con ngườikhác về căn bản, về chất, với động vật chính là ở chỗ con người,ngoài đời sống hiện hữu ra, còn có đời sống tâm linh của nó”

“Đời sống hiện hữu cùng vớiđời sống tâm linh hợp thành bản thể của con người”.

“Xét về mặt bản thể luận, conngười sinh ra với những mâu thuẫnnội tại của nó, và toàn bộ đời sống của một cá nhân hay củamột cộng đồng đều là sự giải quyết vô cùng tận những mâu thuẫn ấy.

Thứ nhất, con người sinh ra như một thực thể hữu hạn giống như mọi sinh vật khác, nhưngkhác với những sinh vật khác nó luôn luôn hướng tới sự vô hạn. Không một người nào bằng lòng vớitính hữu hạn của đời sống con người. Ai cũng muốn kéo dài sự sốngcủa mình thành ra vô hạn, ngay cả sau khi không còn sống nữa. Hướngtới tính vô hạn, tính bất tử làmột thiên hướng bản thể của con người. Sự chôn cất đồng loại, sựthờ cúng tổ tiên... là những biểu hiện cố hữu của thiên hướng đó.

Thứ hai, mỗi con người sinh ra là kết quả của những yếutố ngẫu nhiên, những yếutố không do bản thân mình định trước (từ nguồn gốc tổ tông, sự kếthợp của bố mẹ, đến cả thời điểm thụ thai và sinh ra và vô số nhữngyếu tố khác...), nhưng khi đã có mặt trên đời như một con người có ýthức, thì ai cũng coi sự sống của mình như một tất yếu, đềukhẳng định ý nghĩa cuộc sống của mình mà chỉ mình mới có. Đó làcái được tâm lý học gọi là sự tự khẳng định, tự thể hiện và tựthực hiện của mỗi cá nhân con người. Và thiên hướng ấy luôn luôn tănglên mà không giảm đi.

Thứ ba, mâu thuẫn giữa thiên hướng cực tiểu vốn có và thiên hướng cực đại muốn có ở mỗi con người. Sinh ra là một “hạtbụi” trong vũ trụ, con người bao giờ cũng hướng tới sự chiếm lĩnh(ít ra về mặt nhận thức) toàn bộ thế giới chung quanh. Những câu hỏiđược đặt ra và được trả lời vô cùng tận là những câu hỏi về nguyênủy và cứu cánh của con người, của vũ trụ (con người và vũ trụ từđâu ra và đi tới đâu?).
Thứ tư, sinh ra như một “sinh vật mong manh” giữa muôn vànmối đe dọa từ tự nhiên và từ chính bản thân con người, mỗi ngườiđều hướng tới những sức mạnh toàn năng nhằm đạt tới sự an toàn tốiđa và sự chiếm lĩnh mọi cái cần thiết cũng đến mức tối đa.

Còn có thể nêu ra những mâuthuẫn bản thể khác có ở con người, nhưng như vậy cũng tạm đủ để bàntới những nền tảng của đời sống tâm linh. Một mặt, với tư cách mộtthực thể hiện hữu, con người không bao giờ có thể giải quyết đượcnhững mâu thuẫn ấy. Nhưng, mặt khác, nó phải giải quyết những mâuthuẫn ấy từ trong ý thức sâu xa của mình, và chính đời sống tâm linhlà cách giải quyết duy nhất có thể có.Trong đời sống tâm linh, conngười sống với những hòai bão, những khát vọng hướng thượng, hướngthiện, vươn tới cái tuyệt đối, cái vô hạn, cái toàn năng, tóm lại,cái siêu việt. Và vì tất cả những cái đó đều không có trong thếgiới hiện hữu, nên chúng biến thành những cái thiêng liêng đối vớicon người. Cái thiêng liêng, vì thế, vừa là đích hướng tới không nguôicủa con người, vừa là cái không bao giờ đạt tới được. Và dù khôngbao giờ đạt tới được, nhưng bao giờ nó cũng vẫy gọi con người. Nótrở thành cái tiềm thức, cái vô thức ở con người.

Cái thiêng liêng, và nói rộngra, cái tâm linh là cái không thể nắm bắt được, nhưng không phải vìthế mà nó không tồn tại. Muốn hay không muốn, con người rốt cuộcphải thừa nhận sự tồn tại của nó. Có thể ở một giai đoạn nào đócủa đời sống con người nói riêng và đời sống xã hội nói chung, đờisống tâm linh bị gạt bỏ, bị đẩy lùi, và điều đó đã xảy ra với mộtsố người, một số xã hội lấy chủ nghĩa duy vật vô thần làm hệ tưtưởng chính thống. Nhưng vì đời sống tâm linh là có tínhbản thể của con người, nên sớm hay muộn nó cũng tự phục hồi, haynói đúng hơn, được chính con người phục hồi để bảo vệ bản thể toànvẹn của mình”

(trích dẫn từ “ Đời sống tâm linh và ý thức tôn giáo” – Nguyễn Kiến Giang)

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

"Cái tôi" theo phân tâm học của S. Freud



……
So sánh tâm linh con người với một tảng băng, mà tới tám chín phần mười tảng băng này chìm dưới nước biển, Freud cho rằng phần chính tâm lý con người cũng được ẩn giấu trong cõi vô thức. Bên dưới lớp vỏ ngoài, vì những lý do nào đó, những cảm giác và những mục đích mà một cá nhân đã không những giấu kín người khác mà còn tự giấu ngay chính bản thân mình nữa. Trong tâm lý học của Freud, cõi vô thức là tối thượng và mọi hoạt động ý thức chỉ có một vị trí phụ thuộc. Nếu hiểu được cái thầm kín bí mật sâu xa của cõi vô thức ắt chúng ta hiểu được bản chất nội tâm của con người. Freud tuyên bố là chúng ta thường suy nghĩ một cách vô thức và chỉ thỉnh thoảng suy tư của chúng ta mới có tính chất ý thức. Tâm linh vô thức chính là nguồn gốc gây bệnh tâm thần, vì bệnh nhân thường cố gắng gạt ra ngoài cõi ý thức mọi ký ức khó chịu, mọi ước vọng bị "dồn nén" vô hiệu, nhưng kết quả là anh ta tích tụ ngày càng nhiều ký ức, những ước vọng, để dồn thành bệnh.

 Freud  phân loại mọi hoạt động tinh thần của mỗi nhân con người được thể hiện thành ba cấp độ được ông gọi là Tự Ngã (còn gọi là “Cái ấy” :Id. Soi); Bản Ngã ( Còn gọi là “Cái tôi” : ego moi) và Siêu Ngã ( còn gọi là “Siêu tôi”: superego Surmoi). Quan trọng số một là cái Id, Freud bảo: Phạm vi của Id là phần nhân cách tối tăm và không thể đi đến được của chúng ta. Bản thân ta chỉ biết chút ít về cái Id qua nghiên cứu các giấc mộng và qua sự biểu hiện các triệu chứng bên ngoài của bệnh tâm thần, Id là nơi trú ngụ các bản năng nguyên thuỷ và các xúc cảm đi ngược lên tới cái quá khứ xa xưa khi mà con người còn là một con thú, Id có tính chất thú vậy và bản chất của nó là thuộc về dục tính (sexual in nature), nó vốn vô thức. Freud viết tiếp: Cái Id bao gồm tất cả những gì do di truyền, có ngay từ lúc sinh ra được kết tụ lại trong sự cấu thành. Id mù quáng và độc ác. Mục đích độc nhất của nó là thoả mãn các ham muốn bản năng và các khoái cảm, không cần biết đến các hậu quả. Nói theo Thomas Mann thì: "Nó không biết gì đến giá trị, thiện hay ác, và cả đạo đức nữa".
Đứa bé sơ sinh là Id được nhân cách hóa. Dần dần cái Id phát triển lên thành cái Ego (bản ngã Moi). Khi đứa bé lớn lên. Thay vì được hoàn toàn dẫn dắt bằng nguyên lý khoái lạc, cái Ego bị chi phối bởi nguyên lý “thích ứng với thực tại”. Ego biết được thế giới xung quanh, nhận ra rằng phải kìm hãm những khuynh hướng phạm pháp của cái Id để ngăn ngừa mọi xung đột với luật lệ của xã hội. Như Freud viết, cái Ego là “viên trọng tài giữa những đòi hỏi bạt mạng của cái Id và sự kiểm soát của thế giới bên ngoài”. Vì vậy Ego thực sự hành động như một nhân viên kiểm duyệt, cắt xén, sửa đổi những thúc giục của cái Id làm cho những thúc giục này phù hợp với tình hình thực tế, biết rằng việc tránh khỏi bị xã hội trừng phạt và cả để tự bảo toàn hay là ngay cả đến sự bảo tồn, đều phải tùy thuộc vào những “dồn nén”. Tuy nhiên cuộc đấu tranh giữa cái Ego và Id có thể gây ra những bệnh tâm thần, ảnh hưởng nghiêm trọng tới nhân cách cá nhân.
Sau hết, còn một thứ yếu tố thứ ba trong quá trình sinh hoạt tinh thần gọi là Superego (Siêu ngã). Siêu ngã này có thể được định nghĩa một cách đại khái là “lương tâm”. Học trò chính của Freud ở Hoa Kỳ là A.A Brill đã viết: “Cái Superego là sự phát triển tinh thần cao hơn cả mà con người có thể đạt tới được và bao gồm lẫn lộn mọi sự cấm đoán, mọi quy tắc cư xử do cha mẹ tạo ra nơi đứa trẻ. Tri giác lương tâm hoàn toàn tùy thuộc vào sự phát triển của cái Superego.
Cũng như cái Id, cái Superego cũng nằm trong vô thức và cả hai cùng luôn ở thế tương tranh, trong khi cái Ego luôn hoạt động ở giữa như một trọng tài. Lý tưởng đạo đức và quy tắc cư xử đều nằm trong Superego. Khi ba cái Id, Ego và Superego tương đối hòa hợp thì cá nhân lúc ấy ở trạng thái điều hòa và hạnh phúc. Nếu cái Ego để cho cái Id vi phạm các luật lệ, cái Superego sẽ gây ra lo lắng, cảm giác có tội và mọi biểu lộ của lương tâm.


Nguyễn Xuân Hiến

Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2014

Truy tìm tự ngã



 


..........
Giáo nghĩa Phật dạy, có tác nghiệp thiện ác, có quả báo lành dữ, nhưng không có người hành động, không có người thọ quả. Đây là điều rất khó hiểu. 
Chúng ta nên đi từ cái dễ, rồi đến cái khó. Cái dễ hiểu là tất cả đều có một cái tôi: tôi đi, tôi đứng, tôi ăn, tôi ngủ, v.v... Nhưng khi người ta ngủ, mà ngủ như không chiêm bao, thì hình như cái tôi này biến mất. Hoặc như người bị tai nạn mà mất trí nhớ, không còn nhớ ra mình là ai. Nếu được chữa trị, trí nhớ phục hồi, bấy giờ vẫn là cái tôi như khi trước. Rồi khi người ta chết, cái tôi ấy còn hay không? Thừa nhận còn, tức là thừa nhận có linh hồn tồn tại bất biến, khi thức cũng như khi ngủ, lúc còn sống cũng như sau khi chết.
Đấy là kinh nghiệm thường nhật về một cái tôi. Kinh nghiệm ấy là sự tích lũy trong một đời người những hoài niệm, những đau khổ, hạnh phúc, những danh vọng, khốn cùng. Từ những kinh nghiệm tích lũy ấy mà hình thành ý tưởng về một cái tôi thường hằng. Trong trình độ thấp nhất, cái tôi ấy được đồng hóa với thân xác và những sở hữu cho thân xác. Vị đại hoàng đế có cả một đế quốc: ta và đế quốc của ta. Nhưng một khi thân xác này tan rã, mà chắc chắn là như vậy, thì ta là ai, mà đế quốc này là gì? Những hoàng đế ấy, như Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Thành Cát Tư Hãn, tin vào một cái ta và thân xác ta có thể tồn tại lâu dài, vì không muốn cái danh vọng, quyền lực đang có mất đi; họ đi tìm đạo sỹ, cầu thuốc trường sinh. Những người đi tìm trường sinh ấy, bây giờ ở đâu? 
Lại còn những người khác, giàu sang có cả một cơ đồ, nhưng khi thị trường chứng khoán sụp đổ, nhảy lầu tự tử. Ta và tài sản của ta; cái này mất thì cái kia cũng không còn lý do tồn tại. Thật sự thì ở đây ta là ai, trong cái cơ đồ phú quý ấy?
Với một hạng người khác, ta là danh, đã sinh ra trong trời đất, thì phải có danh gì với núi sông. Một mai vật đổi sao dời, để bảo tồn danh tiết, họ đâm cổ tự sát. Vậy, ta là gì trong cái danh này?
Với những tín đồ tôn giáo tin vào một linh hồn bất tử, một cái ta tồn tại trên thiên đường, hưởng những lạc thú mà Thượng đế ban cho vì đã biết phục tùng Thiên ý. Vì thế họ sẵn sàng giết đồng loại để chinh phục nước Chúa dưới trần gian.
Ta là ai, ta là cái gì, để vì phục vụ nó, bảo tồn nó, mà tự gây khổ cho mình, và cũng gây khổ cho người? Có chăng một cái ta thường hằng, siêu việt thân xác này, và tâm trí này, để cho mọi hành vi trong một đời người, dù thiện hay ác, ngu hay trí, chỉ nhằm mục đích là phục vụ nó, vì ích lợi của nó, vì hạnh phúc của nó, vì danh dự của nó, vì quyền lực của nó?
Trước khi muốn hỏi ta là ai, trước hết nên hỏi, từ đâu có ý tưởng về cái ta ấy?
Có một người mới mua về một con chó, đặt tên cho nó Lucky. Ban đầu, gọi Lucky, nó dửng dưng, vô cảm. Dần dần, nghe hai tiếng Lucky, nó mừng rỡ, ngoắt đuôi. Nó đã hiểu Lucky là cái gì, và như vậy nó cũng hiểu nó là cái gì. Nó hình thành một cái vỏ tự ngã mới qua một cái tên gọi mới. Trước khi có một tên gọi, nó vẫn tồn tại, và tự bảo vệ sự tồn tại ấy. Nó tìm thức ăn, tìm chỗ ngủ, và cắn bất cứ ai đến gần như muốn đe dọa, uy hiếp nó. Khi được đặt tên, toàn thể sự tồn tại ấy bây giờ tồn tại dưới một cái tên gọi Lucky. Dù vậy, nếu có ai xúc phạm đến cái tên Lucky, nó không có phản ứng gì. Nhưng với một con người, khi cái tên gọi, một cái danh gì đó, mà bị xúc phạm, thì hãy coi chừng. Tất nhiên, con người cho đến một tuổi nào đó mới biết nó tên gì, cũng như con Lucky vậy. Rõ ràng, cái danh mang nội hàm tự ngã ấy chỉ là hư danh, nhưng con người cũng như vậy đau khổ hay hạnh phúc bởi chính cái hư danh đó.
Một ông thầy giáo có cái ngã là thầy giáo. Ai xúc phạm đến danh từ thầy giáo, chức nghiệp nhà giáo, người ấy phải bị khiển trách.
Nó là ông vua, nhưng ban đêm lẻn ra ngoài thành chơi. Dân nào không biết mà đối xử vô lễ như với dân thường, hãy coi chừng.
Tự ngã chỉ là một cái danh, và đó là giả danh do nghề nghiệp, hay do chỗ ngồi, chỗ đứng giữa mọi người mà đạt thành. Cái giả danh chỉ mới hình thành trong một đời người thôi, mà đã khó quên, khó trừ như vậy; nếu là cái ngã được tích lũy trong nhiều đời, tất không dễ gì trừ bỏ.
Cái ngã của ông xã trưởng chỉ to bằng cái xã của ông. Cái ngã của một quốc vương to bằng cái vương quốc của ông. Cái ngã của một nhà thông kim bác cổ thì dài bằng thời gian kim cổ, rộng bằng không gian đông tây. Cái ngã của một chúng sinh luân hồi trong tam giới, tất cũng lớn bằng cả tam giới. Cái ngã ấy không phải dễ nhận ra. Không nhận ra nó, để thấy nó là thật hay giả, thì cũng không thể tận cùng biên giới đau khổ. 
Trong kinh Phật có một câu chuyện: Một thiên thần kia, hiện đến Phật, nói rằng trong quá khứ, ông là một tiên nhân, có tên là Ngựa Đỏ, có phép thần thông quảng đại. Ông muốn thấy được biên tế vũ trụ, để thấy được biên tế khổ, và chấm dứt khổ. Thế là ông bắt đầu đi tìm biên tế của vũ trụ. Tuổi thơ của ông bấy giờ dài đến một đại kiếp, đại khái là tỷ tỷ năm, nhưng không bao giờ thấy được cái biên tế của vũ trụ. Rồi ông hỏi Phật: “Có cần đi suốt cái biên tế vũ trụ này mới chấm dứt khổ không?” Phật xác nhận rằng, “Nếu không thấy được cái biên tế của vũ trụ thì không chấm dứt được khổ”. Đức Phật lại nói thêm: “Nhưng không cần. Chỉ trên cái thân cao một tầm này, với năm uẩn nầy, ta có thể biết được thế gian sinh, thế gian diệt”. 
Điều đó có nghĩa rằng, thân thể này, với xúc cảm này, với tư duy này, với nhận thức này, là tập hợp tích lũy cả một khối kinh nghiệm lớn bằng biên tế vũ trụ. Cái khối ấy đông kết thành cái vỏ cứng dày. Nó chỉ có thể bị đập vỡ bằng chày Kim-cang mà thôi.
Nói tóm lại, giáo nghĩa trong kinh Kim-cang bắt đầu bằng sự đối trị tự ngã: vô ngã tưởng, vô nhân tưởng… Trong các tôn giáo, trong mỗi hệ thống tư tưởng triết học, đều có riêng một quan niệm về tự ngã. Trong nhiều tôn giáo, tự ngã là linh hồn do Thượng đế ban cho. Giữ cho linh hồn đừng bị mất, để sau này được hưởng ân phước của Thượng đế, đó là mục đích đời người. 
Trong Nho giáo, người quân tử phải biết lập thân và lập danh. Lập thân cho hiện tại, lập danh cho hậu thế. Đó là xác lập tự ngã trong xã hội.
Lão Tử nói: ta có đại hoạn vì ta có thân. Nếu ta không có thân, nào đâu có đại hoạn? Đó là hãy sống trọn tuổi trời chớ đuổi theo hư danh, hãy để cho thân và danh cùng mục nát với cỏ cây.
Các đạo sĩ Upanishad đi tìm cái tự ngã chân thật là gì. Vượt ra ngoài cái tôi trong đời sống thường nhật, và cái tôi lang thang trong luân hồi để chịu đau khổ, có hay không có một cái tôi thường hằng, chân thật? Cái tôi như giọt nước biển bị cô lập trong một cái vỏ cứng nhỏ mọn, vô nghĩa, trôi nổi bồng bềnh trong đại dương; để rồi khi cái võ cứng ấy đạp vỡ, giọt nước ấy sẽ hòa tan vào nước biển trong đại dương. Khi ấy, Tiểu ngã hòa tan vào Đại ngã.
Trong Phật giáo, Tiểu ngã hay Đại ngã, chỉ là những khái niệm giả danh. Nhưng cái giả danh được đông kết bởi tích lũy vô số vọng tưởng điên đảo. Cái ngã được hình thành trong đời này, do ảnh hưởng truyền thống, tôn giáo, tư tưởng, xã hội, để từ đó hình thành một nhân cách, một linh hồn, và rồi chấp chặt vào đó để mà tồn tại. Cái đó được gọi là phân biệt ngã chấp.
Cái ngã do tích lũy từ điên đảo vọng tưởng nhiều đời, hình thành bản năng khát vọng sinh tồn nơi cả những sinh vật li ti nhất; đó là câu sinh ngã chấp.
Vì vậy, không cần đi tìm ở đâu Tiểu ngã và Đại ngã, mà cần diệt trừ khái niệm giả danh bởi vọng tưởng điên đảo.■ 
Thích Tuệ Sỹ
(Nguồn: TS. Pháp Luân số 60)

Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

Chấp


 Chào các bạn,
Chúng ta đã nói về “vô chấp” rất thường xuyên, nhưng ít khi nói đến “chấp”. Có lẽ là ta phải hiểu chấp là gì, chấp cái gì, và chấp thế nào, trước khi ta thực sự hiểu được “vô chấp”.
Chấp là vướng mắc, bám víu, níu kéo. Tiếng Anh là “to attach” (danh từ: attachment, dính vào) hay “to grasp” (nắm giữ, bám víu).
Nhưng vướng mắc, bám víu cái gì?
A! Ta đang đi vào cốt tủy của Phật pháp với câu hỏi này. Vướng mắc bám víu vào bất kỳ điều gì trong vũ trụ vật thể bên ngoài cũng như vũ trụ tâm l‎‎ý bên trong đầu óc ta cũng đều là “chấp.” Mở quyển tự điển vài trăm ngàn từ, mở bất kì trang nào, chỉ ngón tay vào bất kì chữ nào—trời, hoa, học, thánh…—thì cái điều mà chữ đó nói lên cũng đều là điều có thể làm cho ta “chấp.”

Cho nên, trong truyền thống triết lý Phật gia thì “Vô chấp là không chấp vào bất kì điều gì cả”.
(Nếu dùng từ vô chấp cho truyền thống Thiên chúa gia, thì ta sẽ phải thay đổi một tí: “Con người phải ‘chấp’ vào Chúa và chỉ được chấp vào Chúa mà thôi, để ‘không chấp’ vào bất kì một điều gì khác trên thế gian.”)
Nhưng “chấp, vướng mắc, bám víu” thực ra có nghĩa là gì trong đời sống thực tế? Tôi ham học Anh văn, vậy tôi có chấp Anh văn không? Tôi ham làm việc, vậy tôi có chấp làm việc không? Tôi ham tụng Nam mô bổn sư Thích ca Mâu ni Phật, vậy tôi có chấp vào Phật Thích ca không?
Đây là một câu hỏi rất thực tế. Ở đời để làm việc gì thành thạo ta đều phải dành rất nhiều thời gian và công lao cho nó, đôi khi ăn ngủ ngày đêm với nó, để có thể thành thạo. Sống như vậy với việc đó không phải là chấp nó sao?
“Thế nào là chấp?” là một câu hỏi rất khó trả lời chính xác bằng từ ngữ, vì nó là vấn đề chủ quan trong tâm của mỗi người—không thể nhìn hành động bên ngoài để quyết đoán. Hơn nữa, “chấp” lại có nhiều tầng triết lý‎–vô chấp ở cấp thấp vẫn có thể là chấp của cấp cao, cũng như văn viết thế này là tốt cho lớp 10 nhưng không đủ tốt cho năm thứ tư đại học.
Hôm nay ta chỉ đi vào một vài khái niệm chính của chấp.
“Chấp” có thể nói là dính mắc vào một điều gì đó xa hơn một một chuẩn mực đúng.” Đây lại là một câu rất ba phải, vì từ “đúng” cũng rất là tương đối. Thế nào là đúng? Đúng cho anh nhưng sai với tôi thì sao? Vậy thì ta nên phiên phiến vấn đề từ ngữ một tí. Tại đây ta cứ tạm nói là “nếu bạn thực tình cho là đúng, thì nó là đúng”.
Bạn say mê công việc, nhưng đến mức bỏ bê vợ con không ngó ngàng gì tới, đó là chấp vào công việc. Chuẩn mức đúng là phải có một phần thời gian cho vợ con.
Say mê công việc cảnh sát bắt cướp là tốt, nhưng đến mức xem tội phạm như kẻ thù phải tận diệt, thì đó là chấp, vì tội phạm chỉ là anh em của bạn đi lạc dường chứ không là kẻ thù của bạn.
Cung kính trước tượng Phật để học khiêm tốn và kính trọng người đắc đạo là tốt, nhưng đến mức coi là tượng Phật giúp bạn giác ngộ thì là chấp, vì chỉ có bạn giúp bạn giác ngộ được.
Phạt học trò để kỹ luật và giáo dục là đúng, nhưng với tâm sân hận học trò là chấp, vì bạn phải yêu học trò.
Dạy con điều mình nghỉ là tốt thì đúng, nhưng bắt con làm mọi sự theo ý‎ mình là chấp vào ý muốn của mình, vì yêu con là giúp con phát triển con đường riêng của nó.
Chúng ta người nào cũng có vô số chấp mà ta không để ý đến. Những điều này chính là tù ngục làm cho con tim và trí tuệ của ta không thoát ra được đến khung trời tự do. Nói tàm tạm, đây là các điều chúng ta thường chấp nhất:
1. Thành kiến: Da đen thì xấu, công giáo không yêu nước, Phật giáo là ngu, Mỹ không tin được, Trung quốc là áp bức, người dân tộc miền cao là bán khai, chàng A xạo động trời, con gái đời nay rất khó tin, tôi không giao thiệp với người đồng tính luyến ái, hắn làm thế là người vô đạo đức tôi không muốn liên hệ với hắn, tôi không chơi với người có tư tưởng phản động, tôi không liên hệ với người có mùi cộng sản…
Nói chúng là các “công thức định giá” về cuộc đời và con người mà ta đã học được trong đầu bao nhiêu nay là những điều ta thường chấp vào nhất.
Đa số công thức định giá chỉ thuần túy là thành kiến ngu dốt. Thỉnh thoảng có vài công thức định giá giúp ta được một tí. Ví dụ: “Người Mỹ thì thực dụng và có máu tiếu lâm.” Công thức này cũng tốt để ta học giao giếp với người Mỹ, nhưng tin phiên phiến thôi, lúc thực hành thì phải nhận xét từng người. Cứ “chấp” và công thức thì có ngày bán nhà.
2. Những cái tôi đã biết đã có kinh nghiệm là đúng nhất, các điều khác thì còn tùy.
Đây là thành kiến về cái mình biết. Thực ra điều này cũng đúng, là điều gì chính ta trải nghiệm ta mới có thể tin là đúng. Nhưng tin phiên phiến thôi, vì người khác có thể có kinh nghiệm đúng nhưng lại khác với ta. Đừng cho rằng cái ta biết là sự thật cho tất cả mọi người.
3. Những cái tôi có là nhất.
Như: Văn hóa Việt nam phong phú nhất thế giới, vợ tôi thông minh nhất nước, tôi có bằng tiến sĩ, tôi kinh nghiệm 30 năm, đạo tôi theo mới là con đường chân lý‎, đảng tôi theo mới là đảng yêu nước các đảng khác thì không, thầy tôi hay hơn tất cả mọi thầy khác…
Yêu mọi điều, nhưng không cần thiết phải thổi phồng điều gì cả.
4. Những hy vọng và niềm tin của tôi là nhất.
Như: Chỉ có chủ nghĩa ABC này mới đưa đất nước đến cường thịnh, chỉ có Chúa mới cứu tôi và dân tộc tôi…
Lòng tin rất tốt cho mọi người và nên tự hào về miền tin của bạn. Nhưng nên có “tâm bình đẳng” đối với các niềm tin của người khác.
5. Không bỏ được điều mình có, điều mình muốn.
Như: Không có em thì anh sống làm gì? Không lấy nhau được kiếp này thì ta cùng chết và hẹn đến kiếp sau…
Các chuyện Romeo và Juliette kiểu này làm triệu người rơi lệ, và khi còn trẻ ai cũng yêu kiểu đó. Rất lãng mạn và đẹp.
Nhưng thực ra đó là đại chấp vào tình yêu, và bị cảm xúc chi phối quá mạnh. Chẳng có lý do luận lý, cảm tính, hay tâm linh nào để “tự tử vì nàng cả” (dù là mình đang buồn “muốn chết”).
6. Chấp vào “con đường” của mình, dù đó là “đạo” tôn giáo, hay con đường chính trị, hay con đường giáo dục.
Con đường nào thì cũng chỉ như công thức nấu ăn. Những người nấu ăn giỏi đều biết công thức viết ra không phải để theo, mà chỉ để cho khái niệm tổng quát. Người nấu ăn giỏi luôn luôn nấu khác công thức đã cho.
7. Chấp vào Phật.
Kính Phật và học theo đường Phật thì tốt. Nhưng tin Phật sẽ độ mình thì sai, Phật chỉ trợ lực một tí thôi, mình phải tự độ mình. Và đến một lúc nào đó mình phải vươn lên trên cả cái dạy của Phật để mà tự mình khai phóng con đường của mình.
(Tuy nhiên, giáo lý của Thiên chúa gia là, nhắc lại: “Phải chấp (bám víu) vào Chúa, và chỉ chấp vào Chúa, để không chấp vào ai khác và vào bất kì điều gì khác trên đời.”).
Tóm lại, điều gì ở đời cũng có thể làm cho ta chấp được cả. Nhưng phân tích rốt ráo thì ta chấp vào điều nào đó chỉ vì điều đó là “của tôi”–‎ ý muốn của tôi, tự ái của tôi, danh dự của tôi, tăm tiếng của tôi, tài sản của tôi, thành kiến của tôi, kinh nghiệm của tôi, đạo của tôi, Phật của tôi…
Vì thế, Phật gia dạy vô ngã, không tôi. Nếu tôi không vĩnh cữu, tôi chỉ là phù du, không tôi, thì chẳng có gì là “của tôi” để tôi chấp vào đó cả. Cho nên theo lý thuyết, ta không nên chấp vào bất kỳ điều gì trong vũ trụ, nhưng thực hành thì chỉ cần vô ngã “không tôi”–không còn chấp vào tôi nữa thì tự nhiên ta sẽ không chấp vào bất kì điều gì trong vũ trụ.
Nhưng, tại sao tôi phải vô chấp?
Thưa, vì nếu bạn chấp thì bạn đúng là tên khờ.
Huấn luyện viên nhắc đi nhắc lại chiến lược: “Có bóng vào chân là tức khắc chuyền bóng cho bạn đồng đội.” Tôi thuộc câu này nằm lòng. Tôi đang có bóng trong chân, chỉ trước khung thành bỏ trống của địch 2m, thủ môn địch đã chạy trờ lên trước xa rồi, chẳng có bóng một tên hậu vệ nào của địch cả, theo đúng chiến lược đã định, tôi liền chuyền bóng cho tiền vệ của tôi đang chạy sau tôi 20m.
Chấp làm cho người ta trở thành “si” (mê muội), nguồn gốc của mọi đau khổ. Si là một trong ba độc “tham, sân, si” (tham lam, sân hận, si mê), nhưng thực ra tham và sân đưa đến si, và chính si tạo khổ. Si là vô minh (không ánh sáng), là nguồn gốc của khổ.
Chúc các bạn một ngày vui.
Hoành
© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Si

Chào các bạn,

Hôm nay ta nói đến chữ “Si” trong Phật học, chữ cuối cùng trong tam độc tham sân si, nguồn gốc của mọi khổ đau.
ignorance
Chắc là ai trong chúng ta cũng đã biết cây si của các chàng si tình trồng trước cửa nhà các cô. Sở dĩ gọi là si, vì khi yêu thì thành mù quáng. Si là mù quáng, ngu dốt, đần độn… Vì vậy nên mới nói “si mê”. Đã mê thì phải si, chưa si là chưa mê. :-)
Trong Phật học, si là (1) không biết về nguyên lý căn bản của vũ trụ và đời sống: Tất cả mọi sự đều phù du, không chắc chắn, thay đổi không ngừng—tức là, mọi sự đều “vô thường” (non-permanent), và (2) mê say ôm chặt (tức là “chấp” vào, attached to) những cái vô thường đó.
Ở đây, chúng ta không cần phải đi sâu rốt ráo vào vô thườngchấp của những người tu đường Bồ tát, mà có thể dùng một khái niệm tương tự trong tư tưởng và luận l‎ý Tây phương khá quen thuộc với chúng ta ngày nay. Đó là khái niệm “tương đối” (relative, relativity).
• Tương đối hàm ý “so sánh”. Ví dụ: Khi ta nói “Cô ấy đẹp”, ta đương nhiên nói “So sánh với những người trung bình khác, thì cố ấy đẹp, nhưng so sánh với các hoa hậu thì chưa biết.”
• Tương đối hàm ý “lệ thuộc vào chủ từ”. Ví dụ: “Cô ấy đẹp” có nghĩa là “Đối với mắt tôi thì cô ấy đẹp, nhưng đối với mắt của người khác thì chưa biết.”
• Tương ‎đối hàm ý “có giới hạn”. Ví dụ: Khi ta nói “Anh ta rất thông minh”, ta vẫn hàm ‎ ý rằng cô những điều anh ấy không biết.
Relativism
• Tương đối hàm ý “có thể thay đổi”. Ví dụ: “Cô ấy đẹp” có nghĩa là hiện thời cô ấy đẹp, nhưng khi cô ấy 50 tuổi thì chưa biết. Hay “Anh ấy rất giàu” có nghĩa là hiện thời anh ấy giàu, nhưng mai mốt thì chưa biết.
Trong cách nói hàng ngày, ta luôn luôn nói với nghĩa tương đối, dù là ta chẳng bao giờ nhắc đến từ “tương đối”, thậm chí chẳng nghĩ đến nó. Khi ta nói “Cô ấy đẹp” hay “Anh ấy thông minh” là đương nhiên ta hàm ‎các ý so sánh, tùy thuộc chủ từ, giới hạn, và thay đổi.
Nhưng…
khi ta nói về chính mình:

“Tôi rất đẹp, tôi rất tử tế, tôi rất hiền hậu, tôi rất đạo đức…”
thì lại là chuyện khác.
Khi nói về “tôi hiền hậu” chẳng hạn, ta thường hành động như là ta không nghĩ đến so sánh, chủ từ, giới hạn, và thay đổi. Ta hành động cứ như là “Tôi hiền hậu nhất thế giới, không ai bằng, và luôn luôn hiền hậu tại mọi nơi mọi lúc, vĩnh cửu, và tất cả mọi người trên thế giới đều đồng ‎ý như thế (dĩ nhiên ngoại trừ mấy người u mê).”
Khi nói, Tôi học giỏi, tôi đẹp, tôi khiêm tốn, tôi yêu người, tôi đạo đức… cũng thế. Ta suy tư và hành động cứ như là tôi giỏi nhất thiên hạ và sẽ giỏi vĩnh viễn và ai cũng biết, đẹp nhất thiên hạ và sẽ đẹp vĩnh viễn và ai cũng biết…
Đó là nói về các phương diện cụ thể của tôi…
Khi nói về tư tưởng trừu tượng của tôi, như là ‎ý kiến của tôi, phán đoán của tôi, chủ nghĩa của tôi, lòng tin của tôi, tôn giáo của tôi… thì sự tập trung vào tôi còn mạnh hơn ngàn lần, và hầu như ta quên hẳn “tương đối”:
closedminded
Mấy đám này vừa bất tài vừa thiếu giáo dục.
Chủ nghĩa dân chủ đa đảng là con đường duy nhất đưa đến thịnh vượng.
Chủ nghĩa xã hội là lối duy nhất đến hạnh phúc.
Tin tên đó là chỉ có bán nhà.
Chỉ có đạo tôi mới đúng, mấy đám khác là mê tín dị đoan.
Làm sao mà có thể yêu kẻ nửa người nửa ngợm vậy nhỉ?
Tất cả những điều này, ta thường tuyên bố và hành động một chiều như là chúng nhất định phải đúng 100% và “người khôn ngoan” thì phải biết các điều đó và sống với các điều đó.
Đương nhiên chúng ta biết, thái độ đó rất là trẻ con, vì…
Người già dặn hơn một tí ai cũng biết là điều gì hay và tốt cho mình chưa hẳn là hay và tốt đối với người khác, hay và tốt lúc này chưa hẳn là hay và tốt lúc khác, hay và tốt nơi này chưa hẳn là hay và tốt nơi khác.
Tương đối có nghĩa là cái nhìn của ta rất tương đối, và người khác có thể có cái nhìn khác ta, nhưng vẫn có thể đúng như ta. Nếu ta nói “voi hiền” thì cũng đúng, người khác nói “voi dữ” thì cũng đúng, tuỳ theo lúc voi đứng trong sở thú ăn mía hay đang trong rẫy phá mía.
Nếu biết rằng mọi suy tư, mọi chân lý ở đời đều có tính cách tương đối, và các suy tư hoặc chân lý khác nhau có thể đều đúng, thì ta không còn hồ đồ kiêu căng trong suy tư và phán đoán của mình, cũng như không ép buộc người khác phải nghĩ và làm như mình. Tức là, ta gạt bỏ được những khổ đau cho mình và cho xã hội quanh mình, sinh ra từ kiêu căng và áp bức của chính mình.
Thêm vào đó, ta lại có thể học cách suy tư để thấy cái đúng của người khác, tức là làm cho đầu óc và tư duy của mình giàu có hơn, thông thái hơn.
Bạn không cần phải thích ăn mắm nêm, nhưng đừng đòi hỏi mọi người hãy tẩy chay mắm nêm theo bạn. Và chẳng lý do gì mà bạn không sống thoải mái được với người thích mắm nêm, cũng như học thêm tại sao họ thích mắm nêm và mắm nêm có gì ngon với họ.
Hiểu được lý tương đối ở đời, và sống vui vẻ hòa hợp với mọi người trong‎ lý tương đối đó, chính là sống với thực tế cuộc đời, là mở rộng đầu óc để nhìn mọi vấn đề dưới mọi góc cạnh khác nhau, là không còn làm “người mù sờ voi”, là không còn “Si” nữa.
Trên phương diện xã hội học, tư duy tương đối chính là nền tảng của cách sống mà ta gọi là hòa đồng, cởi mở, dân chủ. Trong một xã hôi có nhiều người suy nghĩ và sinh hoạt khác nhau, thì cách sống hòa bình, công bình và thoải mái nhất là, mọi người cùng nghiên cứu phương cách để có thể sống chung hòa bình vui vẻ, thay vì một nhóm áp đặt một cách suy tư và sinh hoạt trên tất cả mọi nhóm khác.
Kết quả cuối cùng của việc hiểu lẽ tương đối là:
• Trên phương diện cá nhân: Ta khiêm tốn hơn vì biết mọi cái ta có cũng chỉ là tương đối (tức là, vô thường); bình thản hơn vì biết bản chất hay thay đổi (vô thường) của đời sống và, do đó, sẵn sàng đối diện tương lai; thông thái hơn vì biết học cách nhìn của người khác.
• Trên phương diện xã hội: Xã hội bình đẳng hơn, nhân ái hơn, hòa bình hơn và thịnh vượng hơn, vì mọi người tôn trọng nhau, học hỏi nhau và gắn bó nhau.
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành

Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Sân

Chào các bạn,
Hôm nay ta nói đến chữ “sân” trong ba độc “tham sân si”, ba nguồn gốc của mọi khổ đau theo Kinh Tham Sân Si của Phật gia.
Sân hay sân hận là nổi nóng, giận dữ, hờn giận, bực bội, la hét, chưởi bới, xù lông xù cánh… Sân là nóng ra ngoài. Hận là nóng ngầm bên trong. Chẳng ai trong chúng ta lạ lùng gì với sân hận.
anger
Nhưng, chẳng mấy khi ta nghĩ đến sân hận là nguồn gốc của đau khổ cho mình và cho cả thế giới của mình cả, phải không các bạn? Có ai đó nói một câu đụng chạm đến ta một cách bất công, ta “giải thích” ngay lập tức, với lời lẽ “dạy trẻ” hay “hăm dọa”, hay cả hai. Hoặc là mỉm cười dịu dàng với quả tim thâm tím, “Để đó, bà sẽ cho mày biết tay. Đời còn dài.”
* Ít khi chúng ta nổi nóng một cách bất công. Thông thường thì ta nổi nóng vì một anh chàng “ngu dốt” nào đó làm một điều “ngu dốt” nào đó, đụng chạm đến bản thân hay quyền lợi của ta, hay đụng chạm lợi ích xã hội, hay bất công với người khác… Nói chung là chúng ta thường có lý do “đúng” để nổi nóng. Rất ít khi ta nổi nóng vì hiểu lầm. Và tuyệt nhiên không ai nổi nóng mà không có l‎ý do.
Và đó chính là vấn đề khó khăn nhất ta đối diện: Vì ta luôn luôn có lý do chính đáng để nổi nóng, cho nên ta thường không thấy nổi nóng là một độc cần phải giải trừ.
* Hơn nữa, nổi nóng là một quyền lợi xã hội đi đôi với chức vụ. Ông là quan chức, ông có quyền nổi nóng với mày, mày là phó thường dân khố rách áo ôm mà dám hỗn với ông à?
Thầy cô có quyền nổi nóng, học trò thì không. Bố mẹ có quyền nổi nóng, con cái thì không. Chức cao hơn thì được nổi nóng, chức nhỏ hơn thì không.
Quyền nổi nóng gia tăng theo địa vị xã hội, cho nên vua là tồi nhất trong chứng bệnh này. Nói chạm đến lông chân của vua là chết như không.
Vì vậy rất nhiều người càng lớn tuổi và càng quyền lực thì càng tồi tệ với người nhỏ hơn và thấp hơn. Về khoản sân hận này, xem ra người ta có thể đi xuống trong khi người ta đi lên về địa vị và tuổi tác.
Khi nói đến sân hận, chúng ta có thể nghĩ ngay đến một đám teen nhảy choi choi đánh nhau trên đường phố. Nhưng thực ra, sân hận là vấn đề nhỏ đối với teen, mà là vấn đề lớn hơn rất nhiều đối với người lớn, và là vấn đề cực lớn với những người quyền cao danh trọng và lớn tuổi.
* Điều này rất dễ hiểu, vì càng quyền cao danh trọng thì “cái tôi” càng có nhiều cơ hội để trương phình vĩ đại—với bao nhiêu khen thưởng, nịnh hót, danh tiếng, quyền lực, tiền bạc dồn vào mình. “Cái tôi” càng trương phình, ta càng dễ tự ái vặt—ai phê phán một tí xíu thôi, là có thể đốt ngòi nổ chậm cho bom nguyên tử. Sống gần vua như sống gần cọp là thế.
Nhưng tại sao ta phải diệt sân hận?
anger1
Thưa, bởi vì kinh nghiệm cho thấy khi ta nóng, ta làm nhiều chuyện điên rồ và ngu dốt ngoài sức tưởng tượng. Đọc báo thì thấy nhan nhản hàng ngày: Chồng vợ cải nhau hai ba câu, ông chồng nổi nóng đổ ngay thùng xăng vào vợ và bật hộp quẹt. Học trò làm ồn, cô giáo bực mình tát cho một tát lũng luôn màng nhỉ. Một bạn nói bạn kia ngu, bạn “ngu” bèn rút dao đâm ngay tại cổng trường…
Và cái hận ngấm ngầm cũng chẳng kém hại tí nào, nếu không nói là hại hơn nóng bùng nổ. Truyện kiếm hiệp, ảnh hưởng lớn trong nền văn hóa nước ta, dạy “Quân tử báo thù 10 năm cũng chưa muộn.” Và nhiều người bỏ cả đời, chỉ sống để tầm thù. Hạng “quân tử” của đạo tầm thù và không biết đến đạo lý buông xả này, nhất định phải là sáng tạo của các tiểu nhân thời hậu thế mạt pháp, vì khó tưởng tượng được Khổng Tử–thầy dạy quân tử–lại có thể nhỏ mọn đến thế, chưa cần nói đến thầy dạy buông xả Thích Ca.
Mỗi phút sân hận là mỗi phút stress. Người sân hận thì không thể vui vẻ hạnh phúc được, và stress tạo ra đủ loại tâm bệnh và bệnh cơ thể, như động tim, đột quỵ, tăng khả năng ung thư, làm yếu hệ thống miễn nhiễm để bao nhiêu loại bệnh tha hồ tấn công… Nếu ai muốn đi sớm, thì cứ tự do sân hận thoải mái.
Ngoài cái hại cho chính mình, người nhiều sân hận chẳng vui vẻ được với ai, hay “chia” stress cho những người gần gũi, và gây đau khổ cho những người chung quanh, mỗi khi ai đó làm trái ý họ, dù đó là bạn bè hay thân quyến.
Lãnh đạo hay sân hận thì người dưới trướng sống như sống chung với cọp. Lãnh đạo quốc gia mà hay sân hận thì thường gây chiến tranh với lân bang.
* Điều quan trọng nhất ta thấy là, sân hận chẳng được một lợi ích gì cả. Không có điều gì mà ta không thể làm được mà không cần nổi nóng. Ta có thể làm được mọi điều rất tốt mà không hề phải nổi nóng một tí nào.
Thế nghĩa là sân hận chỉ có thể có hại, hoặc cùng lắm là vô hại trong một vài trường hợp lẻ loi, nhưng không thể có lợi gì cả. Cho nên chẳng có l‎ý do gì chúng ta phải có sân hận trong lòng.
Thế nhưng, không phải là đôi khi nổi nóng, làm dữ, cũng là cách tốt để chống sai trái sao?
Đúng như thế, khi gặp một nhóm cướp đường, có thể cách hay nhất là đập cho các chú một trận rồi bắt nhốt vào trại cải huấn, may ra mới lấy lại được an ninh cho đường phố và giáo huấn các chú được.
cooldown
Hoặc vợ bị chồng áp bức quá, phải nổi nóng chống lại kịch liệt thì may ra chàng ta mới bắt đầu kính nể.
Hoặc dân bị quan chà đạp quá, nổi nóng chống lại kịch liệt thì may ra mới có người nghe lời kêu nài.
Bản tính con người là như thế, đôi khi phản ứng mạnh mẽ thì mới đưa lại kết quả và công lý, còn lúc nào cũng dịu dàng chưa chắc đã được việc.
Nhưng phản ứng mạnh mẽ không có nghĩa là nổi giận hay sân hận, các bạn. Đây là hai điều hoàn toàn khác nhau.
Qui tắc chiến đấu thành công đòi hỏi một con tim thông suốt tĩnh lặng:
Nếu bạn phải chiến đấu như người nổi điên vì tức giận, thì hãy chiến đấu dữ dội như thế, với sự suy tính cẩn thận của một con tim trong trẻo tĩnh lặng như mặt nước hồ thu.
Nếu dữ dội vì suy tính bình thản mình phải làm thế, thì đó là chiến lược thắng,
Nếu dữ dội vì nổi nóng, đó là đường thua và đó không là chiến lược.
Tóm lại, sân hận, như HIV/AIDS chỉ có hại mà chẳng được lợi gì. Chẳng lý do gì mà ta không luyện tập để từ bỏ nó.
Nhưng làm sao để từ bỏ sân hận?
Người ta hay nói nhiều cách để chấm dứt sân hận, dẹp bỏ tính nóng, như là: Uống một ly nước khi nổi nóng; hay có nhiều lòng từ và yêu thương mọi người… Mọi cách đó đều tốt cả. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của mình thì có 2 điều dễ làm nhất để trừ sân hận từ từ. (Trừ từ từ vì bản tính con người không thể xoay ngược trong chỉ một ngày, một tháng, hay ngay cả một năm. Bất kỳ luyện tập nào cũng đòi hỏi kiên trì và nhiều công phu tu tập nhiều năm, mỗi ngày khá một tí). Hai điều đó là:
1. Không bao giờ làm quyết định gì khi bạn đang nổi nóng. Quyết tâm đợi hết nóng rồi hãy tính.
Nếu muốn giải thích cho hắn ta ngay vì mình đang nổi nóng, để đó tính sau. Nguội rồi hãy tính. Nếu muốn đấm cho hắn một đấm vì hắn phi lý quá, để đó tính sau. Hết nóng rồi hãy tính. Không làm quyết định gì khi đang nóng, kể cả khi đang “nóng ngầm.”
Quyết định khi đang nóng đơn giản là dốt, là bất trí.
2. Luôn luôn nhắc mình rằng sân hận hoàn toàn chỉ có hại mà không có lợi, và ta sân hận chỉ vì ta còn là nô lệ của thói quen.
Vì vậy, không l‎ý do gì ta phải tiếp tục nô lệ trong con đường bất trí đó, mà không tìm cách làm chủ tâm mình để có được tự do.
Nếu mình biết sân hận là cái phải dứt bỏ như thế, thì rất khó để cho nó có thể sống lâu trong mình.
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
Bài liên hệ: Tham, Sân, Si
© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Tham

Chào các bạn,

Tham sân si. Đây là cái mà Phật gia gọi là tam độc, ba loại độc làm cho chúng ta đau khổ. Nguồn gốc mọi khổ đau của chúng ta nằm trong 3 chữ này. Hôm nay ta sẽ nói về chữ “tham” trước.
greed
Hầu như bất kỳ điều gì trên đời ta cũng có thể tham được: Tham tiền, tham tài sản, tham tài năng, tham sắc, tham quyền lực, tham danh tiếng, tham an ninh, tham người yêu/tình yêu, tham thành công … Hầu như bất cứ danh từ nào trong quyển tự điển mấy chục ngàn chữ, cũng đều có thể là đối tượng của máu tham của ta cả: Cái bàn, chim bồ câu, lăng tẩm, sách, cá mập, đô la, phụ nữ … Cho nên chỉ một chữ này thôi, ta có thể đi lạc vòng vòng thế giới, luân lưu sáu nẻo luân hồi qua vô lượng kiếp, không bao giờ dứt (Nói theo kiểu nhà Phật :-)). Cho nên có lẽ vì vậy mà “tham” đứng đầu trong ba độc.
* Tham cái xấu như tham ma túy, tham nổi tiếng ăn cướp, tham áp bức… là chuyện xấu, đương nhiên rồi.
* Nhưng tham cái hay cái đẹp cũng là vấn đề, dù ta thường không thấy vấn dề này — như là, yêu em quá, nhưng thấy em có vẻ như có cảm tình với tên búzù kia, bèn nổi máu du côn đập cho anh chàng một trận. Hay, tham học quá, nhưng anh chàng hàng xóm làm ồn học không được, mới cho anh chàng một búa.
* Tệ nhất và nguy hiểm nhất là tham những lý tưởng cao siêu, cao quý, như là mang ánh sáng của Chúa hay của Allah đến cho thế giới mù lòa, bằng cách chi tiền hay mang quân tấn công đất người để “giúp” họ trở lại đạo. Hay, mang lại công bình hạnh phúc cho thế giới bằng cách mạng đẩm máu giết chết hàng triệu người “cản trở” con đường cách mạng.
greed1
Cái tham “l‎ý tưởng” này ai cũng thấy là to lớn và kinh khiếp số một cho thế giới con người. Phiền một nỗi là cái tham này lại làm cho người ta mù quáng và điên rồ hơn tất cả mọi cái tham khác—Một tên đồ tể giết hàng triệu người như nghóe, cũng có thể rất thành thật tin rằng hắn ta phục vụ Allah hay phục vụ công bình hạnh phúc cho con người. Và hầu như chẳng có cách nào để khuyên can hay giải bày gì cho mấy đại đồ tể này thấy rõ cái ác của họ.
Vấn đề của chúng ta là “ước muốn” khác với “tham” thế nào?
Trong hàng Bồ tát của Phật gia, ước muốn và tham là một. Còn ước muốn là còn tham.
Nhưng chúng ta chỉ mới đến hàng bị bồ tát, cho nên ta khoan lý giải theo hàng Bồ tát và chỉ lý giải theo hàng bị bồ tát mà thôi.
Ước muốn là những giấc mơ thúc đẩy ta tích cực tiến bước về một tương lai tươi sáng.
* Ước muốn cho chính ta thì ích kỷ, không tốt; và ước muốn vị tha, cho người khác–cho xã hội cho thế giới–là ước muốn tốt, phải không các bạn? Hmm… các bạn đã quên những đại đồ tể vẫn tin mình là thánh mà chúng ta mới nói trên kia sao? Chẳng có gì để bảo đảm là khi ta ước muốn cho xã hội thì ta sẽ không là đồ tể. Và chẳng có gì để bảo đảm là khi ta chỉ ước muốn ta khỏe mạnh giàu có thì ta sẽ không là người tốt cho xã hội. Cho nên ta không thể lấy “ước muốn cho ta” hay “ước muốn cho người” làm kim chỉ nam.
* Trong xã hội mọi người sống chung, không ai thực sự quan tâm đến chuyện ta ước muốn cho riêng của ta hay ta ước muốn cho xã hội. Điều duy nhất mọi người quan tâm là sự thực hiện ‎ý muốn của ta có thiệt hại đến người khác không.
Nếu ta muốn có nhiều tiền, nhưng ta kiếm tiền thành thật, không dối trá, không quảng cáo láo, không ăn chận, không tham nhũng, không áp bức người nghèo… thì việc làm tiền đó có gì sai? Thực ra, nếu tiền rơi vào tay những người làm ăn thành thật, thì đây là việc tốt cho họ và cho cả thế giới, vì người thành thật thường dùng tiền của mình để giúp xã hội và những người chung quanh.
Nếu bạn muốn rao giảng lời chúa, nhưng xỉ vả người “ngoại đạo” là mê tín dị đoan, lầm lạc hay vô đạo đức, và không kính trọng truyền thống tâm linh của người khác, kể cả người không theo đạo nào, thì sự rao giảng lời Chúa của bạn có lợi gì cho ai?
gentleness
Nếu bạn đấu tranh cho hòa bình và công lý, mà không giết chóc trù dập ai, cũng không cản trở tiến hóa của xã hội, thì việc làm lý tưởng của bạn chỉ có lợi cho mọi người mà không hại.
Không làm hại người khác khi thực hiện ý muốn của mình, đây là thước đo cách sống của chúng ta.
Dĩ nhiên là nói vẫn luôn luôn dễ hơn làm. Bởi vì nếu bạn tố cáo tham nhũng, đương nhiên là bạn sẽ “làm hại” người bị bạn tố cáo. Thế thì làm sao đây?
Thưa, đây là câu hỏi không có câu trả lời chung, mà tùy theo mỗi trường hợp, bạn phải tự hỏi lòng mình và phải tự quyết định. Có thể bạn tố cáo anh chàng “tham nhũng” này vì hắn lấy mất chức của bạn mấy tháng trước? Nếu thế thì bạn thực sự chống tham nhũng hay bạn đang trả thù? Mà dù là bạn đang muốn trả thù, bạn vẫn nên tố cáo hay không, vì đó là việc tốt cho xã hội? Hay bạn nên đợi khi bạn thực sự không còn ganh tị với người này nữa, rồi hãy tính đến chuyện tố cáo sau, để chắc chắn là mình khách quan trong việc làm?
Rốt cuộc cũng chính cái tâm của mình phải quyết định cho mình. Nếu ta có tâm tốt, không có ý đồ hại ai vì cá nhân mình, lại luôn luôn tránh thiệt hại cho người càng nhiều càng tốt … thì ước muốn và hành động của ta thường là tốt.
Nhưng khi các chính trị gia hại cả triệu người để, họ tin trong lòng, là giúp cả triệu hay cả tỉ người khác, thì chúng ta cần xét lại… vì với các con số lớn như vậy, các tính toán của ta rất khó để chính xác. Thông thường thì, chết chóc và đổ vỡ thấy ngay trước mắt, nhưng hạnh phúc cho xã hội thì chỉ là một cái bánh vẽ của tương lai. Kinh nghiệm của lịch sử thế giới thường cho thấy thế. Vì vậy, khi nói đến đau thương chết chóc cho nhiều người, tốt hơn là đừng tưởng ta là thánh đang “thay trời hành đạo.”
Nói chung là, Không những tâm ta không muốn hại ai, mà hành động cũng không hại ai, thì đó mới là ước muốn tốt.
Suy tư phải tốt, và hành động cũng phải tốt.
Dùng mục đích để biện mình cho hành động là con đường nhanh nhất để biến ta thành đại ác. Như chặt chân con để nó tốt, không đi chơi bậy. “Trong lòng tôi chỉ muốn con tôi tốt mà, tôi đâu muốn hại nó.” Đó là lối suy tư của ác quỷ, các bạn ạ.
Chỉ “ý tốt” không đủ, phải “làm tốt” nữa mới đủ.
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành